Hồi ấy mẹ tôi kể chuyện ma cho tôi nghe là để
cho đứa bé lên chín lên mười là tôi bắt đầu có vốn liếng kiến thức về thế giới.
Những câu chuyện kể này là mẹ tôi đã tiếp thu được từ bà nội tôi, còn bà nội
tôi thì tiếp thu từ bà cố tôi, bà cố tôi thì tiếp thu từ bà cao tôi. Như vậy những
câu chuyện ma mẹ tôi đem ra kể cho tôi nghe là có tự đời não đời nào. Mãi đến
khi làm công việc sưu tập văn chương dân gian tôi cũng vẫn chưa tìm ra được
lời giải cho câu hỏi tôi vẫn luôn đặt ra với mẹ tôi hồi ấy: Vậy thì lũ ma là do
ai sinh ra? Và cũng chính là cái câu hỏi ám ảnh suốt một thời thơ ấu của tôi đã
khơi dậy niềm đam mê trong tôi. Để có lời giải cho tra vấn về gốc gác loài ma,
một thứ tra vấn có tính chất siêu hình, tôi phải có trong tay những câu chuyện
kể về chúng, càng nhiều càng hay. Như vậy là tôi đã lao vào công việc sưu tập
sưu tầm vô cùng vất vả, nhưng cũng vô cùng lý thú...
Hiển thị các bài đăng có nhãn NguyenThanhHien. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NguyenThanhHien. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016
Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016
TA VẪN GỌI NHAU GIỮA CUỘC NGÀN NĂM
giữa đất trời ngàn dặm ta vẫn gọi tìm nhau
như cuộc gọi tìm nhau có tính cách định mệnh của những mảnh phù vân, ai đã đi
xa, và ai không đi xa, đi xa hay ở lại cũng chỉ là cách nói lãng đãng về những
cách thế tồn tại giữa cuộc sắc không, một chiều nào lãng đãng ngọn gió cuối
ngày ta chợt nghe như có nước mắt em rơi giữa nỗi buồn trong ta, sắc không là
cuộc hòa trộn giữa nước mắt với niềm vui, một sáng nào nghe lũ chim cuống quít
nói với nhau những lời hân hoan về buổi sớm mai,niềm vui tưởng chừng làm xúc động
hết thảy cây lá trên rừng lại chẳng thể dấu nổi nỗi cô đơn vốn ngàn năm ẩn
giữa cây lá trên rừng, thì có nghĩa gì tiếng chim rừng ngợi ca buổi sớm giữa những
sắc màu khôn cùng của càn khôn lung linh bất tận, hết thảy chỉ là cái nhỏ nhoi
trong bất tận, tiếng chim vui của buổi sớm mai chỉ là cái một trong tất cả, giữa
đất trời ngàn dặm ta vẫn gọi nhau, ta gọi em khi tuyết bắt đầu tan trên những
cánh hoa khi đêm đã lén để cho hương thơm của mình lan đi giữa giá rét, đâu chỉ
có ta và em gọi tìm nhau, khi đêm lũ hoa trên mặt đất cũng gọi tìm nhau, hương
thơm là tiếng nói của hết thảy những loài hoa mọc nơi mặt đất, khi lặng
im thì chẳng nghe thấy, chỉ nghe tỏa hương thơm khi chúng gọi tìm nhau, phải rồi,
khi đêm khi các loài hoa trên mặt đất lén để cho hương thơm của mình lan
trong giá rét, các vị thần trên núi Voi Nằm cũng chuyện trò nhau, một ngàn lần
khốn khổ và u tối cả một lũ khốn khổ u tối, là bọn họ nói về ngôi làng Cù
bé nhỏ nơi sinh ra ta, ngôi làng bỗng xuất hiện giữa cuộc sắc không như một
ví dụ về nỗi thống khổ, ta cũng chỉ muốn thổ lộ với em về nơi sinh ra ta như một
ví dụ về cách nhìn thế giới, giữa đất trời ngàn dặm ta vẫn gọi nhau, em gọi ta
khi hết thảy những người làng Cù của ta đang trong những giấc mơ không hề
có kết cuộc, những giấc mơ như cứ dài ra dài ra, ánh mặt trời là luôn đổi khác,
còn những giấc mơ dài ngằn ngặt của người làng Cù của ta thì cứ cũ đi không kịp
nhìn thấy, giữa đất trời vạn dặm ta vẫn gọi tìm nhau, ta vẫn vội vã băng qua thế
kỷ u buồn, và gọi em
Nguyễn Thanh Hiện
Cựu GS QuangTrung BinhKhe
Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015
NGƯỜI GÕ CỬA MÙA THU
viết tặng người đã cho ta một khoảnh trời
văn chương thanh khiết
Vào cái đêm mùa thu chết lịm những ký ức về
những tháng năm chưa kịp xưa cũ, em đã đến gõ cửa nhà ta. Ở làng Cù ta, vào những
đêm thu buồn như thế, con giun con dế nơi bờ rào cũng muốn nói lên lời tâm sự.
Mà đang có ai hát trên đồng làng. Như là bạn của ta. Thằng bạn nối khố của ta. Hay lại đang vỡ vụn một vùng ký ức. Bi thương. Và lạc lõng. Từng
ngày đi nhặt nhãnh bi thương và lạc lõng. Em đã đến gõ cửa nhà ta đúng
vào lúc đang vỡ vụn những ký ức bi thương. Cũng vào một đêm mùa thu, lũ dế gọi
mùa khản cổ nơi bờ rào, thằng bạn nối khố của ta đã hát về những thứ khác
với niềm vui. Hát về những thứ ở phía bên kia tồn tại. Những thứ ở phía bên kia
sự vĩnh hằng. Có tên là niềm bi quan.
Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015
BÌNH CHIÊM KÝ
Làm xong bài tự thuật, trong
đó có câu trông suốt bầu trời chỉ thấy mây bay phơi phới, vua
sai vực mình ra ngồi dựa ghế ngọc, truyền ngôi cho thái tử, rồi chết.(1) Ông
vua ấy ở ngôi ba mươi tám năm, lấy hiệu Quang Thuận mười năm (1460-1469), lấy
hiệu Hồng Đức hăm tám năm (1470-1496), và lúc chết cũng cao sáng như lúc sống.
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư gồm mười chín cuốn, thì đã dành đến hai cuốn để
chép cho ông vua ấy : “…sáng lập chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi
bờ khá rộng, thật là bậc vua anh hùng, tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông
nhà Đường cũng không thể hơn được”.
Và ngày hôm đó ngự giá khởi
hành, trời mưa nhỏ, có gió từ phương bắc thổi lại, nên vua có thơ rằng “bách vạn
sư đồ viễn khải hành, xao bồng vũ tác nhuận quân thanh”, trăm vạn quân lính mở
đường đi xa, giọt mưa lách tách đập vào buồng thuyền làm tăng thanh thế của
binh sĩ. Ngày hôm đó là ngày mười sáu tháng mười một, mùa đông, năm Canh Dần,
1470, sau khi ban hăm bốn điều quân kỷ, vua thống lĩnh hăm sáu vạn binh tiến về
phương nam làm cuộc bình Chiêm, giữ yên cõi bờ của nước. Ở đất Hóa Châu người
dân Đại Việt đêm nằm nghe tiếng con gà dân Chiêm gáy ở bên động Cổ Lũy.
Nhưng đấy là chuyện của người dân hai nước Chiêm, Việt. Còn chuyện phên dậu giữa
hai quốc gia thì phiền tạp, nhiêu khê. Có chuyện ngự giá bình Chiêm của vua Hồng
Đức là do trước đó bốn tháng, vua Chiêm, Trà Toàn, đã xua quân xâm lấn Hóa
Châu.
Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015
NGƯỜI GẢY ĐÀN Ở ĐẤT BẠT
Người
con gái ấy gõ cửa nhà tôi đúng vào đêm giữa thu. Em vốn là ca kỹ trong cung cấm,
vừa rồi trên đường quay về nhà nhìn thấy ông, nên ghé vào. Cô gái nói. Và lấy
đàn ra đặt trước mặt. Mới hôm qua thôi là tiết thu phân. Đang là giữa thu. Tôi
từ giấc mơ về cuộc du hành qua những lênh đênh của rong rêu chuyển qua giấc mơ
giữa thu. Là ông đang buồn. Cô gái hỏi. Tôi nói không phải là buồn, mà đang
nghĩ về cuộc du hành sắp tới của mình. Đi du hành, ông sung sướng thật. Cô gái
nói. Và nhìn lên bầu trời mùa thu. Tôi cũng bắt chước nhìn lên bầu trời mùa
thu. Quả tình trăng sao cũng có lúc chiều theo những hứng thú bất ngờ của con
người. Tự dưng tôi nhìn thấy có hình người con gái mang đàn thơ thẩn giữa những
vì sao. Những kẻ dễ vương vấn cuộc đời sẽ chết vào những lúc thế này. Tôi chợt
nói thành lời. Em cũng chết vào một một đêm giữa thu thế này. Tôi nghe cô gái
nói. Và cảm thấy bàng hoàng. Nhưng là tự bao giờ. Tôi hỏi, và cảm thấy bàng
hoàng. Thưa, cũng gần trăm năm trước, chết ở đất Bạt. Cô gái đáp. Và bắt đầu gảy
đàn cho tôi nghe. Ánh sáng của đám sao trời chiếu vào hiên hè đủ để cho tôi
nhìn rõ gương mặt người gảy đàn ở đất Bạt.
Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014
MIỀN CỔ TÍCH
Lũ các người hãy cứ việc
đi tìm những thứ chẳng bao giờ có.
Lời của các vị thần núi Nung
Đây là làng ven sông. Mình hẹn gặp nhau ở
làng ven sông, anh quên rồi sao? Đây là làng của người. Từ đây đến đầu nguồn của
sông còn xa. Em phải đi cùng anh. Ta phải cùng đi mới đến được đầu nguồn của
sông.
Không biết là nàng từ trong ý nghĩ của ta bước
ra. Hay là từ dưới sông bước lên thật. Ta thấy là nàng từ dưới sông bước lên.
Và chào ta. Mừng rỡ. Như là vừa đi đâu đấy. Và gặp lại. Ta nói là ta có nhớ.
Làm sao quên được. Ta nói. Và cứ thấy là mình có hẹn với nàng thật.
Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014
NHỮNG BÀI TẬP VIẾT CỦA TÔI (4)
28.
Ruột gan ông Hốt rối bời lúc nghe tin bà Hốt đau đẻ .
Ai đánh giặc ở đây? Ai về lo đỡ đẻ ?
- Đau nhiều lắm . Nhiều đến chết được.
Người đem tin cho ông Hốt lại nói. Ông Hốt thét :
- Thằng Noan đâu ? Hãy coi ngó đám dân làng .
Nhưng Noan đâu còn ở đấy .
Con thần Núi Trắng buộc lòng phải hạ mình trước kẻ địch
.
- Hỡi những người dân làng Dầm có cái trống vang xa
ngàn núi . Hãy vì thần Núi Đen của các người nghỉ cầm cây cung trong đêm nay .
Ông Rua có vẻ xiêu lòng. Vì muốn nghỉ đánh, để đem xác
Nĩnh đi chôn.
Nhưng cả dân làng, cả Xìng đều nói :
- Đã đánh nhau, cứ đánh luôn cho đến chết .
Vì nóng lòng báo thù cho Nĩnh, dân làng muốn thế .
Nhưng ý Xìng lại khác . Xìng muốn đánh nhau tiếp cho
đám người ghét mình đều chết cả .
Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014
NHỮNG BÀI TẬP VIẾT CỦA TÔI (3)
18.
Trước mặt là Núi Nung. Bốn bên là rào cao, hào sâu.
Dân làng Dầm có muốn bỏ đến đất nước người cũng chẳng được .
Noan đi đào sắn với dân làng . Đất cằn , sắn chẳng bao
nhiêu củ .
Thấy ai cũng buồn, Noan nói :
- Rán chịu khổ . Vì trước sau bọn ta cũng sẽ được về
Núi Trắng .
Dân làng Dầm chỉ im. Còn anh lại nghĩ đến Ngần .
Con chim Liu phải về với làng Dúc . Phải bỏ thần Núi
Đen , để về với thần Núi Trắng thôi .
Noan ngậm sáo lá . Thổi suốt một đêm. Định sáng ra sẽ
thưa với cha mẹ, là anh phải cưới Ngần.
Nhưng sáng ra, Noan chẳng dám nói .
Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014
NHỮNG BÀI TẬP VIẾT CỦA TÔI (2)
8.
Núi Đen.
Núi Đen.
Xa hơn mấy đời người .
Đây là câu đầu tiên .
Ông Rua đọc đầu tiên. Kế đến là bà Rua . Tiếp theo là
em vợ ông Rua, tức Xìng.
Ba người đứng trên ba cái ghế cao. Nĩnh và Ngần cùng
quì dưới đất với dân làng.
Không lấy cắp của người.
Không gian dối với ngưòi.
Không độc ác cùng người .
Ông Rua cũng đọc trước . Kế đến là bà Rua với Xìng .
Tiếp theo là dân làng .
Hết một đoạn lại dộng trống . Nghe ngàn tiếng trống
như nghe đất đổ, núi đổ.
Ông Rua dạy phải nhắm mắt lúc cầu kinh . Nên mọi người
đều phải vừa đọc vừa nhắm mắt .
Có một lần đương cầu kinh , Ngần khóc . Chỉ mỗi Nĩnh
thấy nên rất lo. Anh đâu biết nó đang nghĩ đến chuyện làm sao cùng người ấy về
được núi Đen.
Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014
NHỮNG BÀI TẬP VIẾT CỦA TÔI (1)
Sinh thời cha mẹ tôi rất mê tuồng. Đêm
xuống là ông mắc võng ở hiên hè, bà nhắc chõng ra sân, cứ nằm mà hát. Ngoài tuồng
ra, mẹ tôi còn thuộc nhiều truyện thơ nôm thế kỷ 19. Trước khi cắp sách đến trường,
tôi được mẹ dạy xong phần đánh vần và chính tả. Đánh vần bằng thơ Lục Vân Tiên,
thơ Kiển Tiên Chàng Nhái. Còn chuyện chính tả là đầu dây mối nhợ của truyện
nhỏ này .
Cách đây không lâu, khi sắp xếp lại tủ
sách cũ, tôi vô tình tìm thấy những bài tập chính tả của mình ngày ấy được cuốn
chung trong số vở tuồng do cha tôi chép. Đọc lại những bài tập viết ấy mới hay
đây là câu chuyện tình khá lý thú, có liên quan đến đất đai sông núi quê tôi .
Mẹ tôi đã ngắt truyện ra từng đoạn để đọc cho tôi chép . Nhiều đoạn có cả lời
răn bảo tôi , hoặc lời bình truyện của mẹ tôi, mà hồi ấy tôi cứ chép hết vào ,
vì đâu biết đâu là chính truyện, đâu là lời của mẹ . Cốt yếu , mẹ tôi đọc cho
tôi tập chép , nên chẳng có việc xem xét lại. Lúc bấy giờ tôi chép sai sót quá
nhiều . Vừa qua phải tốn nhiều thời gian suy đoán để bổ sung vào những chỗ thiếu
ấy . Chuyện không có đầu đề . Xin tạm đặt là “ NHỮNG BÀI TẬP VIẾT CỦA TÔI “ . Và lời mẹ tôi thì đưa vào ngoặc,
để chuyện đọc được liên tục .
Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014
LẠI BÀN VỀ TRỜI
Sách Thượng Thư,
thiên Nghiêu điểu chép :
Vua Nghiêu sai
riêng ông Hy Trọng đến đất Ngung Di để nhìn mặt trời mà định các việc làm
trong mùa xuân.
Còn Aristarque,
nhà thiên văn học đảo Samos, Hy Lạp, tự thế kỷ thứ ba trước công nguyên đã dám
dùng cách riêng của mình để đo mặt trời.
Lại còn có chuyện
động trời hơn là cách đây chừng ba nghìn rưởi năm, tức lâu hơn thời Aristarque,
người Ai Cập đã vẽ lên trần nhà các đền đài cổ cơ thể của trời, tức bản đồ
thiên thể, anh mặt trời sáng nhất thì vẽ thành hình cái đầu bò (chòm sao bắc cực)
còn những cái khác thì đặt tên Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đã chế ra thứ đồng hồ
hứng bóng mặt trời, để chiếu theo đó mà phân giờ phút trong ngày, chiếc đồng hồ
xưa nhất thế giới ấy hiện còn giữ ở viện bảo tàng Bec Lin. Chưa hết. Người
Ai Cập còn xem chuyển động của trời, thấy vào sáng sớm, lúc có sao Lang (sirius)
mọc, thì nước sông Nin dâng lên. Và khoảng thời gian giữa hai lần sao Lang mọc
là 365 ngày, tức tròn một năm. Phải. Trong lĩnh vực khoa học, trời có vẻ thân
thiện với con người, chứ đâu phải như Nguyễn Gia Thiều bảo: Tay tạo hóa
cớ sao mà độc!
Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014
BÀN VỀ TRỜI
Trời thuộc giống đực. Bỡi
trong dân gian ta chẳng nghe ai nói bà trời. Mà chỉ nghe gọi ông trời.
Chữ thiên (trời) trong Hán ngữ gồm chữ nhân và hai gạch ngang, một ở
đỉnh đầu và một ở ngang cổ chữ nhân. Hán tự là loại chữ tượng
hình. Nên từ hình tượng ấy ta có thể nghĩ trời ở trên đầu con
người. Cũng từ đó mà suy, trời là giống rất khoẻ (Không khoẻ làm
sao đè đầu cỡi cổ con người !). Chắc ở đây không muốn nói rõ ra trời
là giống đực. Còn trong từ điển Pháp ngữ, thì sau từ dieu (trời)
được ghi rõ là danh từ chỉ giống đực (nom masculin). Nhưng thôi. Trời
thuộc giống đực hay cái xin giành cho các nhà "Thiên chủng học".
Ở đây chỉ bàn về sự cư xử của trời trong nội bộ trên trời, và với
nhân gian. Nhưng trước khi bàn việc này, tưởng cũng nên bàn đến
hình dung diện mạo và tính nết của trời.
Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014
CUỘC HÁT THƠ Ở SƠN PHONG CÁC
Nguyễn Cửu Kế người làng Lâm Thượng, đỗ cử
nhân vào năm Tự Đức thứ bảy, 1854. Ngồi ghế tri phủ Thiên Sơn đâu hơn tháng,
ông lấy cớ phải phụng dưỡng cha già, xin cáo quan, lui về quê, cất trại ở chân
núi Voi Nằm, nuôi ngựa, viết sách. Khi đã có bè bạn lui tới bàn luận văn
chương, ông đặt tên cho trại nuôi ngựa của mình là Sơn Phong Các. Lưu Thị Miễn,
một ca kỹ tài danh ở đất kinh sư, Huế, đọc trước tác của Kế, đem lòng yêu, đã
tìm đến Sơn Phong Các. Ngay đêm đầu tiên đến Sơn Phong Các, Miễn đã hát thơ của
Kế cho Kế và đám bạn bè của Kế nghe.
Cuộc Hát Thơ Ở Sơn Phong Các là
bài ký Kế ghi lại buổi hát ca trù ấy.
Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014
NƯỚC PHẬT
Người làng Lâm Thượng gọi là cậu Hai, tức cậu
Hai Thâm, con trai ông Cả Lựu. Lý Thâm giống rặt tính cha. Việc gì cũng muốn
trên thiên hạ. Ông Cả Lựu có một lô vợ, nhưng chỉ có mỗi bà đẻ được mỗi Lý Thâm.
Rất sợ họ Lý mình bị tuyệt tự, nên lúc còn sống, có lần ông Cả Lựu đã bảo con
trai : “Con vợ mày nếu cứ phây phây ra thế, không chịu đẻ, tao sẽ cưới cho con
khác“ . Bà vợ nào về với ông giáp năm không đẻ, ông Cả Lựu ly dị, để cưới bà
khác. Lý Thâm không làm theo cách của cha. Không đẻ, cứ để đấy, cưới thêm vợ
khác. Lúc ông bà Cả Lựu mất thì cô Liêu, con một hào phú ở Lâm Hạ, vợ cả của
Thâm, vẫn chưa sinh con. Thâm cho là do nòi máu bên vợ, cưới tiếp hai cô nữa,
nhưng vẫn không đẻ. Đến lúc ấy Thâm bắt đầu nghi ngờ mình không phải là con ruột
của ông Cả Lựu. Vì nếu nòi ông Cả Lựu sao không sinh được con. Để bảo quản lòng
thuỷ chung của mấy cô vợ trẻ, Thâm cho mua đá ong về xây tường rào bao quanh hết
khu nhà ở hơn hai mẫu đất, nuôi thêm gia nhân và chó. Không như cha mình, lấy vợ
chỉ để sinh con nối dõi, Thâm còn có ước vọng hết thảy những gái đẹp trên đời
mình biết đều trở thành vợ mình cả. Bây giờ Tây đô hộ nước ta đã mấy chục năm. Ở
tỉnh đã có các nhà chứa và các sòng bạc lớn. Dù đã có ba cô vợ trẻ coi như xinh
đẹp nhất trong vùng, song, đấy chỉ là thứ bông hoa đồng nội, Thâm muốn đi tìm
những hương sắc mới lạ chốn thị thành. Mỗi lần đi tỉnh chơi, Thâm căn dặn đứa tớ
trai thân tín : “Có khách đàn ông đến nhà, mày phải biết tên gì, ở đâu tới, nhất
là phải coi xét có tình ý gì với các mợ mày không“.
Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014
CUỘC PHIÊU LƯU CỦA TỪ ĐẠO HẠNH
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản kỷ toàn thư, kỷ
Lý Nhân Tông, chép: “Nhâm Thìn, Hội Tường Đại Khánh năm thứ 3, 1112. Bấy giờ
vua tuổi đã nhiều mà chưa có con trai nối dõi, xuống chiếu chọn con của tông thất
để lập làm con nối. Em vua là Sùng Hiền Hầu (không rõ tên) chưa có con trai. Gặp
lúc nhà sư núi Thạch Thất là Từ Đạo Hạnh đến chơi nhà, Hầu nói với Đạo Hạnh về
việc cầu tự. Đạo Hạnh dặn rằng “Bao giờ phu nhân sắp đến ngày sinh thì phải báo
tôi biết trước”. Rồi Đạo Hạnh cầu khẩn với sơn thần, ba năm sau phu nhân có
mang, sinh con trai là (Lý) Dương Hoán... “ (1)
“Bính Thân, Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7,
1116. Mùa hạ, tháng 6, nhà sư Từ Đạo Hạnh hóa thân trút xác ở núi Thạch Thất
(Thạch Thất là tên huyện, tức huyện Ninh Sơn ngày nay, tên núi là Phật Tích sơn.
Từ Đạo Hạnh đến chơi núi ấy thấy tảng đá trong hang núi có vết chân người. Đạo
Hạnh lấy chân ướm vào vừa đúng với vết ấy, tục truyền đó là chỗ trút xác. Trước
là phu nhân của Sùng Hiền Hầu là Đỗ thị đã có mang, đến đây, trở dạ mãi không đẻ.
Hầu nhớ lại lời Đạo Hạnh dặn khi trước, sai người chạy ngựa đi báo. Đạo Hạnh lập
tức thay áo tắm rửa, vào hang núi trút xác mà qua đời. Sau đó phu nhân sinh con
trai, tức là Dương Hoán. Người làng cho là việc lạ, để xác của Đạo Hạnh vào
trong khám để thờ. Nay núi Phật Tích là chỗ ấy ) …. “ (2)
Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013
THI NẠI KÝ
Ông hoàng giáp Nguyễn Văn Hiển trong Đồ Bàn
Thành Ký nói : Nhìn xa xa về hướng đông, thấy những làn sóng nhấp nhô bao la
bát ngát cùng đổ vào khoảng bến Hổ và sông Nhạn, đó là cửa bể Hỗn Cảng tức cửa
tấn Thi Nại. Đây là đứng ở thành Đồ Bàn mà nhìn. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí của
triều Nguyễn nói : Đầm Biển Cạn ở phía đông huyện Tuy Phước, chu vi hơn 9500
trượng, nước đầm đổ vào cửa Thi Nại. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí thấy nước đầm
đổ ra bể. Còn ông Hoàng giáp Hiển thấy nước bể đổ vào đầm. Khi cầm bút
chép thì chuyện đã là của thời quá khứ. Nghìn năm trước là quá khứ. Mà vài giờ
trước cũng là quá khứ. Lịch sử là ký ức. Sự chuyển dịch của ngôn ngữ con
người qua ký ức là quá lớn. Nên nghe nói Thi Nại trước là Thi Lị Bi Nại là do
chuyển từ Cri Vinaya. Cri Vinaya hay Cri Vijaya? Nghe nói đấy là tên một vị vua
Chiêm, người đã chuyển kinh đô Indrapura (Đồng Dương) về phía nam, từ đó mới có
tên đất Vijaya, Bình Định, đất đặt theo tên vua, kinh đô cũng theo tên
vua, kinh đô Vijaya, Đồ Bàn? Và cái đầm nước mặn phía đông kinh đô cũng theo
tên vua, đầm Cri Vijaya? Tất cả cũng chỉ để gọi một vùng non sông đất nước
mà thôi.
Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013
LÊN NON
Ngày nay, mỗi lần nhắc đến hát bội, dân làng Lâm Thượng lại nhớ chuyện ông hương cống Duật, người soạn tuồng Cuộc hội quân ở bến Mạnh Tân, nổi tiếng một thời.
Tương truyền ông Duật tính khí mạnh mẽ, sức học
sánh được với Quản Trọng, Bảo Thúc bên Tàu, có nghĩa có thể ra phò vua giúp nước.
Người ta bảo không phải ông không muốn xuất chính vì gặp buổi chính sự triều Định
Vương Nguyễn Phúc Thuần rối ren, phiền tạp, mà vì mãi đeo đuổi việc tìm hiểu lý
khí đất trời cùng lẽ tương tác của vạn sinh. Lúc cày ruộng, ông Duật bảo lũ
con: "Hết thảy muôn loài phải nương theo nắng mưa, ấm lạnh của mặt trời mặt
trăng mà sống. Cho nên phải biết lúc nào thì gieo giống, lúc nào thì bón phân,
xới cỏ. Cày ruộng gieo lúa là công việc lớn lao và hệ trọng trong cõi đất trời
này". Bà Duật than nghèo túng, ông nói: "Con người cũng giống như
loài cây cỏ, đều lấy lẽ sống làm đầu. Khí tiết tốt, xanh tươi. Khí tiết xấu, úa
tàn. Nhưng có ai nghe cỏ cây than thở đâu?. Mải khi bạn đồng môn của ông là ông
Khảo, tri phủ Thương Sơn, có lần về thăm quê đem lời nói khích "nếu bo bo
cái sở học cho riêng mình thì con người cũng chẳng hơn gì đất đá", ông Duật
mới chịu ra thi.
Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013
ÔNG TÚ CÁC
THƯỜNG,
NGƯỜI TA LÀM ĐỊA CHÍ MỘT TỈNH, MỘT NƯỚC. NHƯNG VÌ SỨC HỌC CÓ HẠN MÀ
LẠI MUỐN CHO ĐỜI SAU CÒN NHỚ ĐẾN NƠI CHÔN NHAU CẮT RỐN CỦA MÌNH, NÊN TA
ĐÃ NẢY RA CÁI Ý LÀM MỘT CUỐN VỀ LÀNG LÂM THƯỢNG CỦA TA, LẤY TÊN LÀ
LÂM THƯỢNG ĐỊA CHÍ.
CHUYỆN ÔNG TÚ CÁC LÀ RÚT TỪ CUỐN ĐỊA CHÍ ẤY.
Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013
MỘT CUỘC CHƠI
Tôi
làm web. Chuyện đó ai cũng biết. Nhưng chuyện xảy ra giữa tôi với thằng cha máy
chủ, nếu tôi không nói ra, thì chẳng ai biết. Thằng cha máy chủ tiếng Anh gọi
là server, phiên ra tiếng Việt là sơ vơ (sơ vơ hay xơ vơ cũng được). Có bao
nhiêu thằng cha máy chủ trên đời này làm sao tôi biết. Chỉ biết thằng cha máy
chủ của tôi là tay dân chơi. Tức không thu tiền lệ phí vận hành máy, trong thế
giới web, gọi là máy chủ miễn phí. Có phải vì thế mà thằng chả hành hạ tôi đủ
điều hay không? Tôi vào thủ tục nhập gia. Thằng chả bảo là tôi sai. Hoặc là mật
mã sai. Hoặc là tên dùng sai. Thì để cho khỏi quên, tôi đã đem giờ sinh ngày
sinh của mình ra làm mật mã, và đem tên gọi trong nhà ra làm tên dùng. Tôi lại
làm lại thủ tục nhập gia. Thằng chả lại bảo tôi sai. Hoặc là sai mật mã. Hoặc
là sai tên dùng. Tôi làm lại thủ tục nhập gia đến lần thứ mười lăm. Và lần nào
thằng cha máy chủ cũng nói tôi sai.
Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013
MỘT CÁCH CẮT NGHĨA QUÁ KHỨ
… coi minh triết như cốt ở
cái năng lực duy trì
một
cuộc hội thoại, tức là nhìn con người như
là
kẻ khởi xướng những miêu tả mới mẻ hơn
là
nhìn con người như là kẻ hy vọng mình có
khả
năng miêu tả một cách chính xác.
Richard
Rorty
Với anh Tám Thuốc, khái niệm tay làm hàm nhai
tay quai miệng trễ (một khái niệm sống được cô đọng thành một phương ngữ) coi
như đã chết, và được chôn cất từ lâu. Và nếu là thời công xã nguyên thủy thì
người ta đã xẻ thịt anh, cũng từ lâu. Tất nhiên, chị Tám Thuốc bấy nhiêu bận
hằm hè muốn xẻ anh ra nghìn mảnh, nhưng rồi rốt cuộc, cũng chẳng làm được. Này
mẹ thằng Khế, cứ nghĩ đến anh Hai Sử làng mình hồi ấy, là sẽ thấy Tám Thuốc này là
kẻ thế nào. Đấy là câu anh Tám vẫn hâm đi hâm lại với chị Tám. Thằng Khế là con
trai đầu. Theo quan điểm anh Tám, công việc hệ trọng nhất của muôn loài trong
trời đất là lưu giữ loài giống của mình. Sao lại sợ nuôi con không nổi? Chẳng
lẽ con người là thua các con vật đẻ cùng lúc đến hằng chục đứa con? Tìm một cái
tên sang trọng cho con là chuyện khó khăn của những tầng lớp sang trọng. Còn
với anh là quá dễ. Ở cái làng Cù của anh người ta trồng đến hằng mấy chục loài
cây ăn quả. Cho nên anh có đẻ mấy chục đứa cũng đủ tên để đặt cho con. Nhưng vì
sao khế lại được ưu tiên trong chuyện này? Có người hỏi. Và anh đáp, cũng như
việc gặp mẹ thằng Khế, nó là chuyện ngẫu nhiên vậy thôi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















