Làm xong bài tự thuật, trong
đó có câu trông suốt bầu trời chỉ thấy mây bay phơi phới, vua
sai vực mình ra ngồi dựa ghế ngọc, truyền ngôi cho thái tử, rồi chết.(1) Ông
vua ấy ở ngôi ba mươi tám năm, lấy hiệu Quang Thuận mười năm (1460-1469), lấy
hiệu Hồng Đức hăm tám năm (1470-1496), và lúc chết cũng cao sáng như lúc sống.
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư gồm mười chín cuốn, thì đã dành đến hai cuốn để
chép cho ông vua ấy : “…sáng lập chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi
bờ khá rộng, thật là bậc vua anh hùng, tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông
nhà Đường cũng không thể hơn được”.
Và ngày hôm đó ngự giá khởi
hành, trời mưa nhỏ, có gió từ phương bắc thổi lại, nên vua có thơ rằng “bách vạn
sư đồ viễn khải hành, xao bồng vũ tác nhuận quân thanh”, trăm vạn quân lính mở
đường đi xa, giọt mưa lách tách đập vào buồng thuyền làm tăng thanh thế của
binh sĩ. Ngày hôm đó là ngày mười sáu tháng mười một, mùa đông, năm Canh Dần,
1470, sau khi ban hăm bốn điều quân kỷ, vua thống lĩnh hăm sáu vạn binh tiến về
phương nam làm cuộc bình Chiêm, giữ yên cõi bờ của nước. Ở đất Hóa Châu người
dân Đại Việt đêm nằm nghe tiếng con gà dân Chiêm gáy ở bên động Cổ Lũy.
Nhưng đấy là chuyện của người dân hai nước Chiêm, Việt. Còn chuyện phên dậu giữa
hai quốc gia thì phiền tạp, nhiêu khê. Có chuyện ngự giá bình Chiêm của vua Hồng
Đức là do trước đó bốn tháng, vua Chiêm, Trà Toàn, đã xua quân xâm lấn Hóa
Châu.





