Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khaocuu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khaocuu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

VUA MINH MẠNG VÀ TÀU CHẠY BẰNG MÁY HƠI NƯỚC


Phải thừa nhận rằng vương triều Nguyễn vào thời vua Minh Mạng, nước ta đã có được những năm gọi là hưng thịnh. Về mặt nội trị, loạn lạc trong nước liên tục xảy ra, nhưng với cải cách hành chánh toàn quốc, tập quyền trung ương… đã bảo đảm cho Minh Mạng đưa quân bảo hộ cả Lào lẫn Chân Lạp. Đất nước thời đó được người phương Tây nhìn nhận là một cường quốc trong khu vực, trong đó không thể không có bản lĩnh của chính vua Minh Mạng đem lại.

Ở đây ta thử xét đến việc Minh Mạng áp dụng kỷ thuật cơ khí Phương Tây, ông đã nhanh chóng cho đóng tàu chạy bằng máy hơi nước, cải tổ thủy quân. Trong tình thế thời bấy giờ, thủy – hải quân phải vững mạnh mới bảo đảm việc biên phòng. Xâu chuỗi các sự kiện mà bộ sử Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu ghi chép, xem lại Minh Mạng đã có những động thái nào về việc nầy. Kết quả thu lượm ra sao.

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

NHÀ THƠ TẢN ĐÀ ĐẾN VỚI ĐẤT BÌNH KHÊ - TÂY SƠN


Vào năm 1941, dù đã qua đời, nhưng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 – 1939) đã được Hoài Thanh và Hoài Chân cung kính đặt vào một vị trí đặc biệt trong Thi Nhân Việt Nam, tập thi ca hợp tuyển và phê bình vừa xuất bản, ghi nhận những nhà thơ có tên tuổi đương thời. Nhà thơ vùng núi Tản sông Đà được mọi người lúc ấy xem là ngôi sao sáng, là chủ soái của thi đàn xuyên qua 2 thế kỷ.

Nhưng Tản Đà không chỉ là nhà thơ, ông còn làm báo, viết văn, dịch thuật, soạn tuồng, soạn sách giáo khoa… Ông từng tranh luận với các nhà tân học về luân lý, các vấn đề cấp bách của xã hội, ông cũng đã từng là chủ báo, chủ bút của một số tạp chí đầu thế kỷ trước, từng lập ra nhà xuất bản cho riêng ông… Ông quả là người đa tài, đúng là người đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp văn chương. Tâm huyết ông dành cho văn hóa nước nhà gói gọn vào ý tưởng bồi đắp cho bức dư đồ, không chỉ là tạp chí An Nam, mà còn là đất nước đang rách nát tả tơi:

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

CHÁNH TỔNG TỔNG VĨNH THẠNH


Những năm đầu thế kỷ trước, địa giới của tổng Vĩnh Thạnh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định bao gồm phần đất cả huyện Vĩnh Thạnh, cộng với phần đất xã Tây Giang, xã Bình Tường của huyện Tây Sơn ngày nay. Tổng là một đơn vị hành chánh xưa, là cấp trung gian giữa huyện và làng xã. Tương đương với cấp Tổng là Thuộc. Thuộc là đơn vị hành chánh bao gồm những ấp, thôn, phường, nậu, man ở vùng ven biển hay miền núi mới vừa khai phá. Tên gọi của nó được bảo lưu từ thời các chúa Trịnh - Nguyễn, dùng để phân biệt với Tổng gồm những thôn, ấp đã được định cư lâu đời. Thuộc còn được dùng để gọi cấp hành chính người Minh Hương - người Hoa sống trên đất Việt gồm có Trang (làng), Thuộc (tổng), Bang (huyện).

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

BINH BIẾN THÀNH BÌNH ĐỊNH NĂM 1800


Thành Bình Định trước xưa là Thành Đồ Bàn của Chiêm Thành, năm 1778 Nguyễn Nhạc lên ngôi vương đã cho xây đắp lại, đổi tên là Thành Hoàng Đế. Đến khi nhà Tây Sơn bất hòa, Quang Trung Nguyễn Huệ định đô ở Phú Xuân, Hoàng Đế thành của Thái Đức Nguyễn Nhạc mất thực lực nên quen gọi với tên là thành Quy Nhơn.

Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1799, Nguyễn Ánh ở Gia Định ra chiếm lấy được Quy Nhơn, đổi tên là Thành Bình Định. Mùa gió bấc thổi, Nguyễn Ánh về nam, giao lại nơi đây cho Chưởng Hậu quân Võ Tánh và Lễ Bộ thượng thư Ngô Tùng Châu trấn giữ. Tháng giêng năm Canh Thân 1800, đại binh Phú Xuân dưới quyền của Thiếu Phó Trần Quang Diệu và Đại Tư Đồ Võ Văn Dõng vào bao vây Thành Bình Định, hòng đánh chiếm lại Quy Nhơn. Quân giữ thành cùng với Võ Tánh có một quân thứ toàn là người Quy Nhơn, gọi là Quân Ngự Lâm. Có một phiên hiệu của đội quân nầy đã gây ra binh biến nơi thành Bình Định, nếu thành công thì không dễ gì Nguyễn Ánh đã kết thúc sớm cuộc chiến, sớm lấy được Phú Xuân, Thăng Long năm 1802.

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

ĐÔI ĐIỀU VỀ PHỦ THÀNH QUY NHƠN

Thành Bình Định - Ảnh chụp trước năm 1945
Thành được dời từ Đồ Bàn về An Ngãi - Tuy Viễn năm 1814

            Năm 1471, hạ xong thành Đồ Bàn, bắt Chiêm vương Trà Toàn đem theo quân thứ ban sư về kinh, chỉ vài tháng sau vua Lê Thánh Tông lập ra đạo thừa tuyên thứ 13 là Thừa Tuyên Quảng Nam. Rồi vị tướng nhiều công trạng trong cuộc chiến tiến binh vào kinh đô Đồ Bàn năm ấy là Trung quân Đô thống Phạm Nhữ Tăng, ông được giao quyền Đô Ty Quảng Nam kiêm Trấn Phủ Hoài Nhơn. Phủ Hoài Nhơn là châu Vijaya của người Chiêm trước kia, là một trong 3 phủ mới được thành lập : Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn, chúng đã được ghi tên vào bản đồ Đại Việt sau cuộc nam chinh của vua Lê. Từ một số thông tin của tộc phả họ Phạm dòng dõi Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão nầy cho thấy Đô thống phủ, lỵ sở của Thừa Tuyên Quảng Nam lúc ấy đặt tại thành Đồ Bàn. Quan Đô thống đã thọ bệnh qua đời và chôn cất tại đây vào tháng 2 năm 1478, sau được cải táng về làng Hương Quế nay thuộc Quế Phú huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Như vậy vị quan đầu tiên trấn nhậm Quảng Nam kiêm lý phủ Hoài Nhơn, ông ở chức chỉ được 6 năm tại Hoài Nhơn, vùng cực nam của Đại Việt thời bấy giờ - là vùng đất cả tỉnh Bình Định bây giờ.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

QUÂN NGỰ LÂM CỦA NGUYỄN VƯƠNG PHÚC ÁNH


            Hiểu theo nghĩa thông thường, quân Ngự Lâm là loại quân hậu cận, ở bên cạnh và bảo vệ an toàn cho vua. Nhưng trong trận chiến tiến ra Quy Nhơn giao tranh với nhà Tây Sơn những năm 1799 - 1802, trong quân thứ của Nguyễn Ánh có binh chủng Quân Ngự Lâm mà ở đây quân binh đều kén lấy người của Quy Nhơn, hầu hết tướng lĩnh chỉ huy - kể cả cao cấp lại là hàng tướng của Tây Sơn theo về. Trong trận chiến, đội quân Ngự Lâm nầy đã có nguyên một quân hiệu lại trở ngược ngọn giáo làm khốn đốn cho quân của Nguyễn Vương không ít, làm cho Vương phải bao phen gọi là lao tam khổ tứ, ăn chẳng ngon mà ngủ cũng không yên.
            Năm 1780, Nguyễn Ánh xưng Vương ở Gia Định, dùng theo niên hiệu của vua Lê. Năm 1781, sau khi giết Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Ánh lấy quân Đông Sơn của Nhơn chia làm bốn quân Tiền, Hậu, Tả, Hữu, làm cơ sở gầy dựng nên đại binh với các dinh Trung Quân, Tiền - Hậu - Tả - Hữu Quân sau nầy. Khi lực lượng đã phát triển, Nguyễn Ánh còn có Vệ Thần Sách, là đội cận vệ được trang bị và tập luyện chiến đấu theo kỷ - chiến thuật Tây phương. Năm 1793, Vệ Thần Sách được nâng lên thành Quân Thần Sách, được xem như là thân quân, lính hậu cận của Nguyễn Vương.

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

ĐÀO TẤN VỚI PHẬT PHÁP


*  Đề bài ĐÀO TẤN VỚI PHẬT PHÁP của BBT QuangTrung BinhKhe

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG VÀ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VIẾT TUỒNG ĐÀO TẤN
(Mang Viên Long)

Đào Tấn là một nhà thơ lỗi lạc, nhà viết tuồng xuất sắc, một đạo diễn tuồng tài hoa, và cũng là một nghệ sĩ tuồng tiên phong trong cách tân, phát triển nghệ thuật tuồng (hát bội) của miền Trung và cả nước vào hậu bán thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Ông đã được tôn xưng là hậu Tổ của ngành sân khấu hát bội, có đền thờ ở Gia Hội, Thừa Thiên – Huế.

Đào Tấn tự là Chỉ Thúc, biệt hiệu Mộng Mai – khi lên tu ở chùa Linh Phong (tục gọi là chùa Ông Núi) có thêm đạo hiệu là Mai Tăng; sinh ngày 27/2 Ất Tỵ (Thiệu Trị thứ 2- 1845), chánh quán thôn Vinh Thạnh, xã Phước Vân - huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh quán thôn Tùng Giản - xã Phước Hòa -  huyện Tuy Phước - Bình Định. Ông thi đỗ Cử Nhân năm Tự Đức 20 (1867), trải qua hơn ba mươi năm nhậm chức dưới các triều vua nhà Nguyễn, đã từng là Tham Tri, Phủ Doãn, Tổng Đốc, Thượng Thợ (cả bốn bộ), Hiệp Tá Đại học sĩ (1898). Cơ Mật Viện đại thần…

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

PHƯỚC AN THƯƠNG HỘI


Cụ Đào Phan Duân

Phước An Thương Hội là một công ty kinh doanh hai dịch vụ buôn bán và vận tải, tại tỉnh Bình Định, nhằm mục đích kiếm tiền lời trợ giúp du học sinh của tỉnh nhà ăn học thành tài.

Thành phần tham gia công ty gồm các vị túc nho từ Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân, Tú tài, Hàn lâm của hai phủ Tuy Phước và An Nhơn. Vì vậy, ghép hai địa danh là Phước An, đặt tên cho thương hội.

1 - Cách tổ chức:

- Người sáng lập Phước An Thương Hội là Phó bảng Đào Phan Duân ở làng Biểu Chánh, nay thuộc xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, làm cố vấn thường trực.

- Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, người làng Hòa Cư, nay thuộc xã Nhơn Hưng, huyện An Nhơn, được mời làm cố vấn danh dự.

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN



Tự Lực Văn Đoàn chính thức tuyên bố thành lập vào tháng 3 năm 1934. Nhưng trước đó, qua tờ Phong Hóa bộ mới phát hành ngày 22 tháng 9 năm 1932 đã bắt đầu mang dấu ấn sinh hoạt văn học của Văn đoàn. Có thể nói Tự Lực Văn Đoàn là một hội đoàn văn học mang tính đại chúng, thông qua các hoạt động văn học xây dựng nền văn chương tiếng Việt, vạch rõ những lạc hậu xã hội, những vấn đề cấp thiết của thời đại. Qua hơn 10 năm hoạt động, nhiều nhà văn, nhà thơ đã thành danh từ Văn Đoàn. Tiếng Việt trở nên chuẩn mực hơn, phong trào thơ mới sống động, mạnh mẽ hơn, trong đó có công không nhỏ của Tự Lực Văn Đoàn.

Ở miền Nam trước năm 1975, Tự Lực Văn Đoàn đã có một vị trí như thế nào trong chương trình học môn Văn của cấp Trung học. QuangTrung BinhKhe giới thiệu bài viết của PGS.TS Nguyễn Công Lý - Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG - Tp.HCM đã đăng trên trang mạng của trường nầy ngày 30.10.2012

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

TRƯỜNG SƯ PHẠM QUINHON



Trước tháng Tư năm 1975, từ bến xe Qui Nhơn băng qua đường Gia Long, theo đại lộ Võ Tánh, đi về phía biển, cuối cùng gặp đường Nguyễn Huệ, rẽ mặt về hướng Tây Nam. Con đường Nguyễn Huệ chạy dọc theo bờ biển, bên trái là xóm dân chài Khu Hai, bên mặt có Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Qui Nhơn, rồi qua khúc quanh Eo Nín Thở, đến ngã ba Nguyễn Huệ và Nguyễn Hữu Lộc, ở góc đường phía Tây là cơ sở Quân Sự. Vẫn trên con đường Nguyễn Huệ, từ đây, bên trái là bãi Thùy Dương; bên phải, đi một quãng nữa, sẽ gặp Trường Trung Học Vi Nhân, rồi Trường Sư Phạm Qui Nhơn, kế đến là Trường Trung Học Kỹ Thuật, tiếp theo có Quân Y Viện và kho Y Dược 720 của Quân Đoàn 2. Nơi đây, qua khỏi ngả ba, là khu vực Ghềnh Ráng, nếu vẫn tiếp tục đi trên đường Nguyễn Huệ, bên phải là phía hông của Trung Tâm Huấn Luyện Nhân Dân Tự Vệ của ông Võ Trấp, nằm dựa lưng vào núi Vũng Chua. Và bên trái, nhìn lên chân đồi là mộ Hàn Mạc Tử .

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

BÌNH ĐỊNH - NHỮNG NGÔI TRƯỜNG NGÀY CŨ (4)


QUẬN BÌNH KHÊ : 4 TRƯỜNG

15 - Trung Học Quang Trung:

Vị trí trường nằm phía Tây Bắc thị trấn Phú Phong, cách quốc lộ 19 chừng 200 mét về hướng bắc, cách Quận Đường chừng 1 km về hướng tây, sát với ngã ba sông. Nơi đây, sông Đá Hàng (tên một phụ lưu của sông Côn, phát nguyên từ vùng núi An Tượng ở Vân Canh chảy về hướng bắc, vòng qua Hầm Hô rồi đổ ra Phú Phong theo hướng tây nam – đông bắc), gặp sông Hà Giao (tên của sông Côn ở đầu nguồn) chảy từ tây bắc xuống đông nam. Khuôn viên trường là một phần đất của hãng Delignon (công ty dệt tơ tằm của Pháp ngày xưa), mặt tiền (hướng bắc) và mặt hông (hướng tây) ngó ra sông nên cảnh trí rất thơ mộng.

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

BÌNH ĐỊNH - NHỮNG NGÔI TRƯỜNG NGÀY CŨ (3)


Từ năm 1955, sĩ số càng ngày càng tăng, các trường công lập không đủ sức dung nạp. Đầu thập niên 1960, số học sinh thi vào đệ thất trường công lập, trúng tuyển khoảng 30%. Mặc dù Bộ Giáo Dục cố gắng phát triển hệ thống trung học công lập đến các quận, thị trấn và cả thị tứ; nhưng vẫn không bắt kịp với đà học sinh gia tăng. Đến đầu thập niên 1970, các trường công lập cũng chỉ thu nhận được 60% tổng số học sinh muốn vào lớp sáu [1]. Vì thế, những mô hình trường trại khác, cũng được thiết lập song hành với trung học công lập, hòng đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục.

Với tỉnh Bình Định, trước năm 1975, ngoài hệ thống Trung Học Công Lập, ở Qui Nhơn còn có các loại trường Trung Học Tư Thục, Trung Học Nghĩa Thục, Trung Học Văn Hóa Quân Đội phát triển mạnh. Và ở các quận, lại có mô hình Trung Học Bán Công [2], Trung Học Tỉnh Hạt [3], Trung Học Tư Thục, song hành với hệ thống Trung Học Công Lập.

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

BÌNH ĐỊNH - NHỮNG NGÔI TRƯỜNG NGÀY CŨ (2)


07 - Trung Học Vi Nhân:

Trường Trung học tư thục Đệ Nhị cấp của Công Giáo. Nguyên năm 1963, các Sư huynh dòng La San thuê Chủng Viện địa phận Qui Nhơn để mở trường Trung Học La San. Đến năm 1972 mãn hợp đồng thuê mướn, trường này dời vào Nha Trang.

Trước tình trạng học sinh La San ở Qui Nhơn bỗng dưng không có chỗ học hành, Đức Giám mục Qui Nhơn đã giao cho Linh mục Giám đốc Giáo dục Công Giáo thành lập Trung Học Vi Nhân, ngay trên cơ sở mà La San đã mãn hợp đồng thuê mướn của Chủng Viện. Trường khai giảng niên học 1972 - 1973 vào ngày 15 tháng 8 năm 1972, thu nhận 1.700 học sinh nam nữ từ lớp Sáu đến lớp Mười một, chia thành 23 lớp. Trường được điều hành bởi Linh mục Huỳnh Kim Lăng làm Hiệu trưởng và một số Linh mục, tu sĩ của địa phận Qui Nhơn phụ tá, với một Ban Giảng huấn có trên 50 giáo sư [9].

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

BÌNH ĐỊNH - NHỮNG NGÔI TRƯỜNG NGÀY CŨ

Trung Học Cường Đễ Quy Nhơn

Theo Đặc San Cường Để & Nữ Trung Học Qui Nhơn, Thầy Đào Đức Chương có bài biên khảo "Các Trường Trung Học Tỉnh Bình Định - tính đến ngày 01-4-1975”, giới thiệu về 49 ngôi trường trong cả tỉnh. Giống như bài đã được đăng trên Đặc San, trang cuongde.org cũng đăng bài biên khảo nầy kỳ thứ nhất ngày 12.08.2010 có 20 trường với tiêu đề QUI NHƠN - NHỮNG NGÔI TRƯỜNG NGÀY CŨ, kỳ thứ hai ngày 07.01.2013 có 29 trường với tiêu đề BÌNH ĐỊNH - NHỮNG NGÔI TRƯỜNG TRONG TRÍ NHỚ

Nay xin phép Thầy Đào Đức Chương cũng như anh chị em Trung Học Cường Đễ và Nữ Trung Học Quy Nhơn cho được đăng lại bài biên khảo nầy dưới đề tựa BÌNH ĐỊNH - NHỮNG NGÔI TRƯỜNG NGÀY CŨ để hệ thống lại trường lớp Trung Học ở tỉnh Bình Định tính đến ngày 01-04-1975

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

NHỮNG BÀI THƠ TÌNH CỦA NHỮNG CÂY BÚT NỮ


Một hôm, trong khu bán sách sale của một thư viện địa phương, tình cờ tôi bắt gặp một quyển sách còn khá tươm tất, bìa trình bày rất nhã, có tên là LOVE POEMS BY WOMEN, AN ANTHOLOGY OF POETRY FROM AROUND THE WORLD AND THROUGH THE AGES (Thơ tình của phụ nữ, một hợp tuyển thi ca khắp thế giới  qua mọi thời đại) (1).

Tôi vội mở ra xem thử. Lật xem trước mục lục thì thấy có tên HỒ XUÂN HƯƠNG trong danh sách các tác giả có thơ trích giới thiệu.Thế là tôi mua ngay, vì tò mò muốn biết các học giả tây phuơng đã xếp chung bà chúa thơ tình của chúng ta với những nữ thi sĩ nào trên thế giới qua mọi thời đại này.

Nói chung, thơ tình do các cây bút nữ xuất hiện trên văn đàn thế giới từ xưa đến giờ cũng không phải là it và cũng chẳng phải là một hiện tượng gì đặc biệt. Cách nay gần 4.300 năm, thơ của nữ thi sĩ Enheduanna (2285 - 2250 trước công nguyên) ở Sumer, vùng Lưỡng hà châu) đã được khắc bằng chữ hình nêm (cuneiform). Bà  cũng là  người được xem như là tác giả đầu tiên của nhân loại có tác phẩm còn được bảo tồn cho đến ngày nay và lưu lại cho hậu thế.

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

TÌNH THẦY TRÒ

PHẠM VĂN NGHỊ, NGƯỜI THẦY CỦA NHỮNG DANH NHÂN
VÀ ANH HÙNG DÂN TỘC

Đền thờ Hoàng giáp Phạm Văn Nghị

Lịch sử giáo dục của dân tộc ta  từng ghi lại công lao biết bao vị thầy xuất sắc, hết lòng vì thiên chức cao quý, đã đào tạo được vô số nhân tài cho đất nuớc. Chúng ta có thể kể những vị danh sư tiêu biểu như : Chu Văn An, Võ Công Đạo, Phạm Văn Nghị, Trần Đình Phong, Võ Trường Toản, v.v … Xuất phát từ truyền thống “tôn sư, trọng đạo” của dân tộc ta, mối quan hệ giữa thầy và trò luôn luôn được nuôi dưỡng trong môi trường tình cảm và đạo đức. Người Thầy có địa vị được tôn kính xếp vào ngay sau Vua và trước cả Cha theo thứ tự Quân, Sư, Phụ trong Khổng giáo

Tuy nhiên, mối quan hệ thầy trò chỉ có thể diễn ra thật tốt đẹp khi cả thầy lẫn trò đều phải đạt được cái Chính Danh trải qua quá trình tự rèn luyện bản thân.Chính danh trong Khổng giáo gói trọn trong 8 chữ : quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử (nghĩa là vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con). Thuyết chính danh có thể nói gọn cho dễ hiểu là “thầy cho ra thầy, trò cho ra trò”.

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

CÓ MỘT NGƯỜI TÙ ĐỘC ĐÁO

KonTum - Tranh của Nguyễn Như Khôi


Trong hồi ký Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Ngô Đức Đệ có nhắc một số người hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp và chính phủ Nam triều đày lên Kon Tum trước mình (trước tháng 6-1930). Trong đó có một người tù rất độc đáo, có khả năng cảm hóa người khác, kể cả kẻ “đối trọng” với mình. - Ấy là Đồng Sỹ Bình.

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

ĐỌC NGOẠI TRUYỆN ĐÔ ĐỐC TUYẾT


“Ra sức trừ khử sự đau khổ cho dân, vì cả cõi đời này mà tiêu diệt hết mọi sự bất bình, đó là sở nguyện của ta. Chí nguyện và công việc đó không phải để nói với bọn ngươi. Bọn ngươi không phải là kẻ đáng để cho ta nói chuyện ấy” …
(Tây Sơn Lương Tướng Ngoại Truyện - Nguyễn Đô Đốc Văn Tuyết Ngoại Truyện - Họ Nguyễn Thôn Vân Sơn ).


Điểm lại những tư liệu liên quan đến hành trạng của Đô Đốc Tuyết triều Tây Sơn, có lẽ nên lược trước bộ Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái. Bỡi vì ít gì đi nữa, các chương hồi liên quan đến giai đoạn Tây Sơn tiến binh ra Bắc đã được Ngô Thì Du (1772-1840) là người đương thời chấp bút, viết nên.

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

NGÔI TRƯỜNG TRUNG HỌC ĐẦU TIÊN Ở BÌNH KHÊ

Chiều Sông Côn - Ảnh chụp trước vị trí trường MXT ngày xưa

Dưới Triều Nguyễn, cũng giống như các địa phương khác, trường lớp ở Bình Định xây dựng theo phân cấp hành chính Trường Tỉnh, Trường Phủ và Trường Huyện. Quan chức phụ trách giáo dục cấp Huyện có Huấn Đạo, cấp Phủ có Giáo Thụ và cấp Tỉnh có Đốc Học. Giống như trường tư bây giờ, ở mỗi làng xã còn có những Thầy Đồ là các Khóa sinh, các ông Tú hoặc các hưu quan, hoặc các vị đỗ đạt mà không muốn làm quan đứng ra tổ chức giảng dạy cho người trong thôn trong xóm. Những lớp học nầy đặt ở nhà Thầy hoặc nhà dân, dạy từ 5,  7 cho đến vài chục môn sinh.

Trường học tạm gọi là trường cấp tỉnh ở Bình Định được thành lập từ thời Gia Long, xây dựng tại thôn Kim Châu, huyện Tuy Viễn, nay thuộc Thị Trấn Bình Định (hiện là Thị Xã An Nhơn). Tháng 1 năm 1805, Gia Long đặt chức Đốc Học ở trấn Quy Nhơn, bổ Đặng Đức Huy người Hoài Nhơn phụ trách, kiêm khảo khóa sĩ tử (giám sát, tra xét, tổ chức việc thi cử) 2 Dinh Quảng Ngãi và Phú Yên. Đến năm 1842, Trường được dời về thôn Liêm Trực, phía nam tỉnh thành.

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

VỀ TỪ "MỌI" VÀ TỪ "YOAN" !



Lâu nay chúng ta hay né tránh, kiêng kỵ việc dùng từ “mọi” để nói về bà con các dân tộc thiểu số quần cư trên dãy Trường Sơn. Bởi lẽ từ “mọi” thường được hiểu theo nghĩa mọi rợ, kém phát triển, thấp hèn v.v…

Từ đó có nhiều người thắc mắc, không hiểu tại sao hai vị học giả khả kính (là hai anh em ruột) Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi lại đặt tên cho công trình khảo cứu rất có giá trị của mình là “Mọi Kon Tum”? Đâu phải hai vị thiếu kiến thức, thiếu ý thức đến độ gọi người bà con thiểu số của mình là… “mọi rợ”?

Thắc mắc ấy được giải đáp ngay trong sách Mọi Kon Tum do nhà in Mirador ở Huế ấn hành năm 1937. Nội dung sách là những khảo sát, ghi chép của hai ông trong khoảng thời gian từ 25-7-1933 đến 30-5-1934, lúc hai ông được bổ lên làm việc tại Kon Tum. Do được viết và xuất bản rất sớm (lúc tỉnh Kon Tum còn bao gồm cả khu vực An Khê thuộc tỉnh Gia Lai ngày nay) như vậy nên văn phong, từ ngữ, cú pháp trong sách còn mang nhiều dấu ấn của thời kỳ chữ Quốc ngữ sơ khai.