CHUYỆN VỤN VẶT BÌNH ĐỊNH
1. TÁNH KHÍ CỦA NGƯỜI BÌNH ĐỊNH NGÀY XƯA
Tánh Khí hay Tính Khí [性氣] là nết riêng, là lòng dạ của mỗi người. Người
xưa đã nói về Tánh Khí của người Bình Định như thế nào?
+ Theo Hoàng Việt nhất thống dư
địa chí, Lê Quang Định thì chép ngắn gọn: “Tính người quả cảm, dũng khí”.(1)
Binh bộ Thượng thư triều Gia Long nói về
người ở vùng đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn gọn ghẽ, chẳng vẽ Rắn thêm chân
như mấy ông quan viết sử sau nầy.
+ Còn theo Đại Nam nhất thống
chí của Quốc sử quán triều Nguyễn: “Người Bình Định tính tình trầm
tĩnh, dũng cảm, thích việc nghĩa. Người học thức phần nhiều nho nhã, trung hậu,
người tiểu nhân thì phụ bạc, xảo trá”.(2)
Mấy sử quan nhà Nguyễn đúng là vẽ Rồng vẽ
Rắn! Việc hành xử của người có học, điều trước tiên là phải biết sống đúng
phong cách của người có học đạo lý, ở đâu chẳng vậy! Kiểu người xảo trá, phụ
bạc ở vùng miền nào mà chẳng có (!?).
+ Vào triều Nguyễn, thời đã phân định rạch
ròi địa giới, địa danh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Bấy giờ có
câu ca lưu truyền:
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay co
Bình Định hay lo
Thừa Thiên ních hết
Những dị bản của câu ca, có khác chút
đôi ba từ ngữ nhưng hầu hết ngữ nghĩa những câu ca đó đều tỏ rõ nhận xét về cái
tánh tranh luận phản kháng của người Đàng Trong, bao gồm cả địa phận Thừa
Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.
Tạm hình dung câu ca là nói về tánh
tranh luận không thiếu lý lẽ của người Quảng Nam; tánh đôi co của người Quảng
Ngãi; tánh lo sợ, an phận không tranh thắng tranh hơn của người vùng đất nhà
Tây Sơn dấy nghiệp; tánh thắng thế dù có tranh luận hay không cần tranh luận của
người Thừa Thiên, đất kinh sư triều Nguyễn.
Có luận giải cho rằng người Bình Định
hay lo lót! Việc lo lót để yên thân, việc lạm dụng quyền thế để vơ vét, ních
cho đầy bụng, ở đâu mà chẳng có. Tùy thể chế, tùy triều đại đặt giới hạn mà nơi
đó nảy ra ít hay nhiều, đâu chỉ riêng là người Thừa Thiên mới làm quan, mới
ních. Ở đây “ních” không những là nhồi nhét cho đầy, ngữ nghĩa “chật ních” đã
hàm ngụ cái ý tràn đầy. Đất kinh sư Thừa Thiên xưa là đất tập trung người đầy
quyền thế, đầy kinh luân.
Người đất kinh sư với địa vị trong tay
(có quyền lực), không cần lý lẽ cũng thắng thế. Người đất kinh sư có lắm người
tài hoa, đầy chữ nghĩa trong tranh luận (có học lực), nhưng phổ biến là nơi phồn
hoa đô hội với túi tiền trong tay (có tài lực), nén bạc đâm toạc tờ giấy, sức mạnh
đồng tiền xé toang cả pháp lý thì tranh luận chẳng là gì cả. Xưa ở Bình Định
thường dẫn câu:
“Vai mang bị bạc kè kè
Nói bậy nói bạ nẫu nghe rầm rầm”.
Thói thường ở đời, tài lực luôn dẫn đầu,
chi phối cả học lực và quyền lực. Người đất kinh sư Thừa Thiên đã ních, nhét hết
vô túi những lợi thế có trong cuộc sống.
Với câu ca ở trên kia, nó mô tả được một
phần nào Tánh Khí của người Bình Định xưa trong khoảng thời gian e dè triều đại
mới, triều đại luôn dè chừng người của vùng đất dấy nghĩa của nhà Tây Sơn. Với
mô tả của người xưa, thử tìm hiểu xem nó được hình thành từ đâu?
CƯ DÂN BAN ĐẦU Ở BÌNH ĐỊNH LÀ NHỮNG AI
Kể từ khi Lê Thánh Tông Nam chinh,
thành Đồ Bàn thuộc về Đại Việt năm 1471, ở đây ngoài lính Việt lưu lại trấn giữ
biên cương theo chính sách “ngụ binh ư nông”, còn có thêm tội phạm các nơi bị
lưu đày, đưa đến đây sung vào lính.
Mùa hạ, tháng 4, ngày 22 niên hiệu Hồng Đức
thứ 5 (năm 1474), vua Lê Thánh Tông có sắc chỉ:
+ “Tù nhân bị tội lưu, ở châu gần
thì sung làm quân vệ Thăng Hoa (Quảng Nam), ở châu ngoài thì sung làm quân vệ
Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), ở châu xa thì sung làm quân vệ Hoài Nhân (Bình Định), những
kẻ được tha tội chết cũng sung làm quân vệ Hoài Nhân”.(3)
Tiếp theo chân lính và tù nhân, bước mở
đất của người Việt đầu tiên đến Bình Định hầu chắc chỉ là người Thuận Quảng, vì
Bình Định bấy giờ là phủ Hoài Nhơn, một trong 3 phủ của Thừa tuyên Quảng
Nam.
Rồi cộng đồng người Chiêm ở lại cộng cư
với người Việt có lẽ không phải ít, các mối hôn nhân giữa người Việt với người
Chiêm cũng chắc xảy ra không ít. Sử Ký toàn thư chép vào ngày
9 tháng Tám năm Cảnh Thống thứ 2 (năm 1499), vua Lê Hiến Tôn có ra chiếu dụ:
+ “Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến
dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục
được thuần hậu”.(4)
Lệnh trên phải tuân, nhưng hẳn nhiên với
địa đầu đất nước luôn phải đối phó chuyện binh đao, việc quản lãnh cương thổ
còn lỏng lẻo, Hồng Đức bản đồ còn vẽ sai vị trí huyện Tuy Viễn thì làm sao ngăn
cấm triệt để dân Việt ở đây, bấy giờ hầu hết là lính xa nhà, là tội phạm trọng
án. Sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết vào thời nhà Mạc
năm 1555 để lại cho thấy:
+ “Ở Điện Bàn đàn bà mặc áo Chiêm” (5)
+ “Người La Giang nói tiếng Chiêm” (6)
Vùng Thuận Quảng thuộc Đại Việt đã
lâu, vậy mà Điện Bàn (nay thuộc tp.Đà Nẵng)
và La Giang (nay thuộc Vĩnh Linh), nơi đây vẫn đầy dấu tích Champa trong cuộc sống, thì huống chi là ở đất
Bình Định mới sáp nhập vào Đại Việt.
Đến thời chiến tranh Trịnh Nguyễn, cư
dân Bình Định được bổ sung thêm người Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh bấy giờ còn thuộc Nghệ
An), trong cuộc chiến 1655 – 1660, quân Nguyễn chiếm 7 huyện ở Nghệ An là Kỳ
Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, với Nam Đàn.(7) Lúc lui về Nam, chúa Nguyễn Phúc Tần cho
dân binh Nghệ An theo về, đưa lên khẩn đất ở thôn Tây Sơn, trong số đó có Tằng
Tổ của ba anh em nhà Tây Sơn là Nhạc Huệ Lữ. Thôn Tây Sơn bây giờ là vùng
Tiên Thuận của xã Bình Khê, vùng Tiên An, Tiên Hòa của xã Vĩnh Quang tỉnh Gia
Lai.
Hẳn nhiên sự hình thành cư dân Bình Định
thuở ban đầu trong đó cũng có mặt những dòng tộc các địa phương ngoài sông
Gianh, nhưng chắc chắn là không nhiều, chỉ điểm xuyết chớ không phải là cốt lõi
để làm nên Tánh Khí người Bình Định.
Có thể chịu khó sưu tra thư tịch cổ mà
nhận ra được xuất xứ của cư dân một vùng miền. Nhưng ai có chịu khó mấy cũng
khó thể thử nghiệm làm điều tra xã hội học để nhận diện cái bên trong của người
một vùng miền. Tánh Khí là lòng dạ bên trong của con người, với một gia đình
tánh khí thể hiện của mỗi người còn mỗi khác, thì huống chi là cả một
vùng đất. Chỉ tự riêng mỗi người đã là một thực thể mang khá nhiều biến số, mỗi
biến số lại biến thiên theo thời gian lẫn không gian cuộc sống.
Cho nên nếu nói về Tánh Khí của
người Bình Định chẳng qua như Thầy bói xem voi. Tùy điều kiện của phạm
vi tiếp xúc, tùy tâm thức và tri thức của mỗi người mà chỉ thấy được phần nào của
người Bình Định. Có thể đó là cái cộc cằn của một anh tội phạm nông nổi; cái cục mịch chân chất của
một nông dân đi mở đất; cái ngang tàng kiêu dũng của một chiến binh
vùng đất địa đầu; cái hùng tâm phản kháng xã hội của những
kẻ chọc trời khuấy nước… Và có cái gì đấy mang dáng dấp tự vệ của cư dân đã mất
nước nhưng mãnh lực còn đọng dấu ấn thổ âm của tiểu quốc Vijaya cho đến tận bây
giờ, ngoài đèo Bình Đê, giáp ranh Quảng Ngãi là thổ âm của tiểu quốc Amaravati,
có người đã diễn dịch đó là giọng của người Chiêm nói tiếng Việt. Không những vậy,
chế độ mẫu hệ của người Chiêm còn để lại đất Bình Định tập quán sống mà các sử
quan triều Nguyễn cho là thói xấu:
+ “Về quan hệ họ tộc thì rất thận trọng, nếu là
họ Ngoại dù cách 4-5 đời cũng không lấy nhau. Ngoài ra các thói xấu như ngụ cư ở quê mẹ, quê vợ…”.(8)
Lưu dân khi sống chung đụng
một thời gian dài, Tánh Khí ít nhiều sẽ trộn lẫn vào nhau, khó thể chọn mẫu thử
nghiệm đúng đắn để xem xét cái chung nhất. Người đời nay chỉ có thể hình dung
Tánh Khí người Bình Định qua những gì mà họ đã biểu lộ ra ngoài. Nhưng cũng có
thể xem đánh giá của người nước ngoài là một mẫu thử nghiệm, chẳng hạn như báo
cáo của Charles Chapman cho Toàn quyền Anh ở Belgan sau khi đã tường trình chuyến
đi đến Đàng Trong của ông năm 1778, có ghé thành Hoàng đế yết kiến Thái Đức
Nguyễn Nhạc:
+ “Họ là những người lịch sự, hòa nhã,
không gây gỗ hại ai, hơi thiên về biếng nhác” (They are a courteous,
affable, inoffensive race, rather inclined to indolence).(9)
Chapman ở Bình Định từ 13.7.1778 đến
28.7.1778. Sau khi yết kiến vua Thái Đức ở thành Hoàng Đế, phái viên người Anh
nầy cùng sứ đoàn cập cảng Đà Nẵng ngày 2 tháng 8, đến 29 tháng 11 rời Đà Nẵng để
về lại Calcutta. Nhưng phần nhiều thời gian Chapman đã ở tại Huế, ông phải căng
thẳng đối phó với “Ong-ta-hia”, đại lý con buôn của các thuyền mành Trung Hoa,
ông cũng phải dành tâm trí đối phó với trấn thủ Thuận Hóa Phạm Ngô Cầu. Dè
chừng người Đàng Ngoài, nhưng cuối cùng Chapman cũng phải dùng đại bác, lựu đạn đối đầu cùng quân Trịnh để cướp đường tháo chạy về Đà Nẵng.
Thành thử dưới góc nhìn của Chapman, ông
thiên về người Quảng Nam và Bình Định hơn là bao trùm luôn hết người Thừa
Thiên. Trong Tường trình, ông mô tả sự gặp gỡ và nhận nhiều sự giúp đỡ của quan
lẫn dân Bình Định khi cập cảng Quy Nhơn. Vậy thì trong Báo cáo, điều ông nhận
xét không phải là nói cho qua quýt, không thể hiện đúng dữ liệu cần phải chính
xác để có sách lược tương tranh cùng các nước khác đặt Thương điếm ở
Đàng Trong.
Cũng có thể tham chiếu thêm góc nhìn của
Cristoforo Borri trong Xứ Đàng Trong, bản dịch Thanh Thư. Ngoài việc nói
về khí phách, tính dũng cảm của người Đàng Trong so với người Tàu và người Nhật,
vị giáo sĩ từng cư trú tại Nước Mặn (An Hòa, xã Tuy Phước Bắc hiện nay) còn
thêm nhận xét người Đàng Trong, trong đó có người Bình Định:
+ “Về bản chất, người Đàng Trong cư xử với
người Âu Châu nhã nhặn và lịch sự hơn, dù tự tôn của họ rất cao, họ cho rằng nổi
giận là một việc gì đó hèn hạ”.(10)
Nguyên văn tiếng Pháp của Bonifacy dịch từ bản tiếng Ý đăng trong tập san
Đô Thành hiếu cổ (BAVH số tháng 7-12 năm 1931):
+ Et de sa nature, le Cochinchinois est plus
affable et plus courtois dans sa façon de traiter les Européens, bien qu’il ait
une haute opinion de sa valeur personnelle ; il pense que se laisser aller à la
colère est chose dégradante. (11)
NGƯỜI BÌNH ĐỊNH XƯA QUA BIỂU HIỆN BÊN
NGOÀI
Thời nhà Nguyễn, người Bình Định tỏ vẻ
như an phận, thường tránh né tranh hơn tranh thua. Còn trước đó thì như
thế nào!?
Không kể đến những giai thoại lẫm liệt
khí phách của những danh tướng Tây Sơn đã hiên ngang chịu nhận án chết trong lễ
Hiến phù của nhà Nguyễn Gia Miêu, ở Bình Định người vùng kinh đô cổ Đồ Bàn có
câu chuyện về “Ông Chảng Ngang Thiên” quãng năm 1778.
Ông Chảng có tên là Đinh Văn Nhưng, người
làng Bằng Châu nay thuộc phường Đập Đá. Sửa sang xong Hoàng Đế thành, Nguyễn Nhạc
lên ngôi, cho phong tước Đinh Văn Nhưng là người thuộc họ tộc từng bảo bọc cha
ông mình, và cũng là người thuở ban đầu giúp nhiều tài chánh cho cuộc dấy
nghĩa. Theo Quách Tấn kể trong Nước Non Bình Định:
+ Được vời đến phong tước, ông Chảng tâu: Ngài tuy làm vua, nhưng vẫn là đạo
con cháu. Nếu ngài muốn phong tước cho lão, thì xin cho lão được tự phong, rồi
Ngài thông lục. Vua Thái Đức chuẩn y, ông bèn viết:
Bùng binh chi tướng
Uýnh cướng chi quan
Bộn bàng chi chức
Chảng chảng ngang thiên
Do đó Bình Định có câu: “Ngang quá ông Chảng”.(12)
Với 4 câu thơ rặt
thổ ngữ cổ của xứ Nẫu Bình Định, có người đã diễn dịch ra là “Tướng lớn /
Quan to khiến người được phong mừng quýnh lên / Chức nhiều / Chảng ngang hàng với
trời”. Không những muốn được bề bộn chức vụ lẫn tước phong, còn vui hơn nữa
mỗi khi lên thành Hoàng Đế, ông Chảng ngồi kiệu bằng thang tre; lọng dù phất bằng lá dừa; đi cùng với mấy anh nông
dân với khí vệ, cờ biển là cuốc, mai, cào cỏ, tàu chuối, tàu dừa… Từ đó người Bình
Định thấy ai ngang ngang bướng bướng thì dẫn câu “Ngang quá Ông Chảng”.
Chuyện “Ông Chảng Ngang Thiên” ẩn
chứa khí phách của một người triều Tây Sơn. Gặp thời hưng thịnh nhưng ông Chảng
ngang tàng không xem địa vị làm trọng, ẩn chứa góc nhìn đối với chức tước, nghi
thức sang trọng chỉ là phù hư trong cuộc sống, ảnh hưởng từ chủ trương không
tranh của Phật – Lão. Nam Hoa Kinh có câu chuyện dẫn lời của một
anh thợ mộc: “Cây đó vô dụng, gỗ nó không dùng được việc gì cả, vì nó vô dụng
nên mới thọ được như vậy, mới không bị đốn”. Nhưng với đời thường, không
tranh lấy gì mà có động lực phát triển,
lấy gì mà tồn tại. Tâm không
tranh trong mỗi người, mỗi người tự tu tập, tự từ bỏ. Ông Chảng đem bày cái Tâm
trước bàng dân thiên hạ, thấy có vẻ chướng, tạm gọi là hiển lộ cái ngang bướng
của người Bình Định ra bên ngoài xã hội.
Ít ra qua câu chuyện cũng thấy được cái
ngang bướng của Ông Chảng không phải biện bạch thị phi, chỉ lấy đó làm vui. Chất
Văn trong “Ông Chảng Ngang Thiên”, việc Đinh Văn Nhưng xem chức tước địa
vị, xem nghi thức kiểu thế tộc sang trọng cũng chỉ như chuyện thường ngày của
hàng dân dã. Ít nhiều gì nó thể hiện từ nòi tộc của danh tướng Đinh Liệt từng
trải các đời vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Thánh Tông, từng là khai quốc công thần
đánh đuổi giặc Minh, từng tham chiến cuộc Nam chinh chiếm Đồ Bàn năm
1471.
Võ học Bình Định xưa vốn đã xem trọng việc
rèn chất Văn cho người luyện võ. Trong đó lấy sự chịu đựng làm chính, học võ là để phòng vệ,
để giữa đường thấy chuyện bất bình mà ứng xử, học võ không phải đem võ thuật ra để tranh thắng. tranh hơn.
Cũng vậy, cư dân Bình Định gặp vận bỉ vào thời Nguyễn,
hầu hết đều an phận không tranh thắng tranh hơn, không cãi không đôi co, nó vốn đã
mang cái chất Văn của người học Võ . Ngữ nghĩa lo trong “Bình Định hay lo”, hiểu
theo lo sợ là ngữ nghĩa của người vùng miền khác nhìn vào cái an phận thủ thường
mà gán thành câu ca. Thật ra người Bình Định không lắm hãi sợ, không đến nỗi phải
co ro cúm rúm trước ánh mắt không ưa của triều đại mới. Người Bình Định thấy
như an phận, nhưng đâu phải vậy.
Dưới thời Tự Đức, viên quan lĩnh việc
phòng thủ hải phận Bình Định Trần Văn Điển, người làng Phụng Sơn Tuy Phước dám
dâng sớ hặc tội Tổng đốc Bình Phú (Bình Định và Phú Yên) Thân Văn Nhiếp nhũng
nhiễu, vị tư mà che chở người thân cận. Hữu Tham tri Binh bộ Tổng đốc Bình Phú,
người của đất kinh sư phải bị giáng 3 cấp.(13)
Theo câu ca “Bình Định hay lo”, nhận diện
đấy là nỗi lo, nỗi sợ, lo ngại mất nồi cơm dưới triều đại mới theo nghĩa an phận
thủ thường. Nhưng những gì đã có, cái cộc cằn, cái cục mịch, cái
hùng tâm, cái ngang tàng, cái đối kháng tự vệ của dân mất nước ngày trước, cái
chất không tranh của người học võ đã trộn lẫn vào nhau, chúng đã thành cái
“tánh thàng” ra vẻ an phận của người Bịnh Định thời bấy giờ.
“Tánh thàng”, cái tánh an phận không tỏ
vẻ đua tranh, như khờ mà chẳng khờ, như hiền mà không hiền. Thấy thàng thàng chẳng
muốn hơn ai, chẳng lý chẳng sự, ai có nói gì cũng chỉ ừ ừ hữ hữ,
nhưng khi đổ cộc lên là có chuyện. “Đổ cộc”, đúng như Cristophoro Borri nhận
xét là người Đàng Trong dễ nổi giận. “Có chuyện”, nhưng đúng theo như nhận xét
của Chapman là người Đàng Trong không gây gỗ hại ai, hơi thiên về biếng nhác.
Người Bình Định quả là biếng nhác ganh đua, không tấn công gây gỗ, chỉ ra đòn
khi gặp chuyện phải phòng vệ, ra tay giúp người cô thế, không ưa hùa theo quyền
thế làm điều xấu xa.
Đổ cộc cũng có lắm đường đổ cộc, trước
dè bỉu, chê khen của thiên hạ thuở phong trào Thơ Mới thế kỷ trước, Quách Tấn chẳng mừ ử, chỉ ừ ừ hữ hữ bỏ ngoài tai, cứ lầm lũi đi con đường
của mình. Và chuyện đổ cộc làm được của ông là đã để lại di sản đồ sộ thơ luật
Đường chẳng hề thua kém thơ của các thi nhân đời Đường. Có người theo đó đã lấy
nghĩa đầy đặn, dày dặn của từ hậu [厚] ghép với
cái tánh “thàng thàng” mà dùng thành “thàng hậu” để chỉ cho Tánh Khí người Bình
Định tiền bán thế kỷ trước.
Xâu chuỗi lại xuất xứ cư dân ban đầu của
Bình Định, góc nhìn của người nước ngoài trước đây, những gì ở bên ngoài xã hội
mà người Bình Định đã biểu lộ… Tạm hệ thống lại để hình dung ra Tánh Khí của
người Bình Định xưa, mới thấy cái TÁNH VÕ hiển lộ bên ngoài, cái HỒN VĂN tiềm ẩn
bên trong người của vùng đất kinh đô cổ Đồ Bàn. ◙
Phan Trường Nghị
(1) Hoàng
Việt nhất thống dư địa chí, Nxb Thuận Hóa 2005, tr 247
(2) Đại
Nam nhất
thống chí, Nxb
Thuận Hóa 2006, tập III, tr 15
(3) Đại
Việt Sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội 1993 bản pdf, tr 480
(4) Đại Việt Sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội 1993 bản pdf,
tr 530
(5) Ô Châu Cận Lục, Nxb Giáo dục 2009, tr 42
(6) Ô Châu Cận Lục, Nxb Giáo dục 2009, tr 47
(7) Nam triều Công nghiệp
diễn chí, Nxb Khoa học
xã hội 1993 bản pdf
(8) Đồng Khánh dư địa chí, Nhóm biên dịch
Ngô Đức Thọ bản pdf
(9) Chapman’s Report, British To CochinChina 1778-1822, Kuala Lumpur, tr 73
(10) Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng hợp
TpHCM 2019, tr 82
(11) Cristoforo Borri, BAVH 1931, tr
308
(12) Nước Non Bình Định, Nxb Nam Cường
Sài gòn 1967, tr 354
(13) Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục 2001,
tập VII bản pdf, tr 1035

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét