Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

NÚI KỲ SƠN QUA QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN

Chiến trận năm 1793 ở Quy Nhơn

            Núi Kỳ sơn hiện thuộc xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai. Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức chép:

Núi Kỳ sơn ở phía Đông huyện; chỗ lõm ở lưng núi có đèo, phía Tây đèo có hồ Quang nên tục gọi là đèo Hồ Quang. Sang phía Bắc đến đèo Cao, có khối đá như hình chim Phượng, tục gọi núi Phượng sơn, rừng cũng gọi là rừng Phượng sơn. Cách chân núi ba mươi bước có một cái hố, hình thế bằng phẳng, rộng ước vài ba mẫu, bên hố mọc ra một khối đá lớn giống hình con Rùa, tục gọi là hố Rùa. Từ đó đi xuống có hang đá, bên cạnh hang có hai khối đá, trẻ chăn trâu thường đến nện vào đá chơi đùa, tiếng vang ra, một bên như tiếng chuông, một ben như tiếng trống. Về phía Bắc Phượng sơn, lại nổi lên một ngọn núi, vòng quanh như hình bán nguyệt, tục gọi gò Nguyệt, phía Đông là thôn Lộc Hạ, có núi Ngư Cốt (núi Xương Cá), tương truyền vị cao tăng đời Lý là Không Lộ ăn cá, xương cá tụ lại thành núi, nên gọi thế.(1)

            Qua ghi nhận của Quôc sử quán triều Nguyễn, núi Kỳ sơn () còn có Phụng, Quy, Ngư, Nguyệt xoay quanh. Đại Nam nhất thống chí chỉ nhắc đến địa danh thôn Lộc Hạ, nhưng bốn mặt của Kỳ sơn còn có các địa danh Phụng Sơn, Nhơn Ân, Huỳnh Mai, Tình Giang, Xuân Mỹ, Mỹ Cang, Mỹ Trung, mà cư dân nơi đây đã góp phần hun đúc khí thiêng cho Kỳ sơn.

            Như phía làng Tình giang (giờ là Giang Bắc, Giang Nam) nơi có mộ phần Thượng thư Lê Công Miễn, tác giả của bộ luật Hình thư triều Tây Sơn. Phía làng Phụng Sơn, nơi cư dân góp công góp của lập ra Nghĩa thương thời Tự Đức chăm lo “tối lửa tắt đèn”, xóm làng quanh vùng cùng có nhau. Phía làng Kỳ Sơn là nơi dạy học, làng Nhơn Ân là quê của Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu Ông đồ nghệ sĩ. Phía núi Huỳnh Mai là nơi gởi thân của Hậu tổ tuồng Đào Tấn, học trò của Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu.

            Kỳ sơn cũng từng là chỗ gươm đao máu đổ. Năm Quý Sửu 1793, quân Gia Định ra đánh Quy Nhơn, Võ Tánh đổ bộ lên được chợ Thị Nại, quân của Tôn Thất Hội cũng vượt được Cù Mông, Hà Nha (nay thuộc Vân Canh). Quân Nam phá vỡ phòng tuyến cầu Tân Hội (là cầu Đôi) tiến tới làng Bình Thạnh (nay thuộc phường Quy Nhơn Đông), nhưng con của Thái Đức Nguyễn Nhạc là Nguyễn Bảo lập phòng tuyến từ Thổ sơn (núi Thị Thiện) đến Úc sơn (núi Úc) ngăn chặn được. Đại Nam thực lục chép:

Vua (Nguyễn vương Phúc Ánh) mật bảo Tôn Thất Hội ở gò Phú Quý (nay vùng đèo Phú Quý xã Tuy Phước Tây), dùng dân phụ cận gỡ gai chặt cây giả cách làm đường sạn đạo, rồi đến đêm cùng Nguyễn Văn Thành dẫn quân ngậm tăm ngầm vượt Kỳ Sơn, họp với đạo quân Võ Tánh để đánh úp sau lưng giặc. Giặc đương lúc chẳng ngờ, quân và voi tán loạn, giày xéo lẫn nhau, chết không xiết kể.(2)

            Đánh nhau thì cả hai bên, bên nầy sưng đầu thì bên kia cũng phải mẻ trán như nhau. Đến chiến trận Kỳ sơn năm Nhâm Tuất 1802, lúc nầy quân Gia Định đã chiếm được Phú Xuân, vua Nguyễn Quang Toản phải chạy ra Bắc, nhưng Quy Nhơn vẫn còn trong tay Thiếu phó Trần Quang Diệu của nhà Tây Sơn. Đại Nam nhất thống chí bản đời Duy Tân chép:

Nhất Thống chí đời Duy Tân viết về núi Kỳ Sơn

     Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên tấn công quân Tây Sơn ở Kỳ sơn, binh của Đức Xuyên giết được nhiều quân giặc. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu suất binh sau núi tiến ra vây hãm, khiến phó tướng Tiền quân Nguyễn Huệ tử trận. Đức Xuyên đóng binh cố thủ. Rồi Nguyễn Văn Thành đem binh đánh, đuổi giặc đến vườn Dừa (椰園) phá tan. Lệnh đắp đồn bảo cố thủ để chặn đường rút lui của giặc, giặc phải trốn chạy (ý nói Trần Quang Diệu phải bỏ Quy Nhơn theo đường thượng đạo ra Nghệ An), tức là núi nầy.

            Giang sơn hun đúc khí thiêng làm nên cái đẹp cho con người, nhưng ham muốn của con người lại làm cho núi sông phải khóc cảnh máu chảy đầu rơi

 

Phan Trường Nghị

 

(1) Đại Nam nhất thống chí, Tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 24

(2) Đại Nam thực lục, Tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 317

 


 

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

ĐÈO PHỦ CŨ CỦA BÌNH ĐỊNH

đèo Phủ Cũ trong Đồng Khánh bản đồ

            Đèo Phủ cũ tại Phù Mỹ, Đồng Khánh dư địa chí năm 1887 chép ở phủ Hoài Nhơn:

Một đường quan báo từ lỵ sở (Hoài Nhơn) đi về phía Nam đến đèo Cựu phủ giáp huyện Phù Mỹ hơn 16 dặm. (1)

            Trong Đồng Khánh bản đồ ghi là Cựu Phủ lãnh (舊府嶺). Lãnh/Lĩnh là núi có đường đèo.

            Còn Đại Nam nhất thống chí bản Duy Tân thì chép:

+  Cựu Phủ lãnh (舊府嶺) ở phía Nam huyện (Bồng Sơn), giáp giới huyện Phù Mỹ là chỗ đường trạm đi ngang qua. Núi sản nhiều chè.

舊府嶺在縣,符美縣界, 驛路所經之處.山多産茶

            Vậy đèo Cựu phủ hay nôm na đọc là đèo Phủ cũ. Dân gian có người gọi là đèo Phú cũ chỉ vì lâu ngày trại âm ra mà thôi.

            Vì sao gọi là là Phủ cũ!

            Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu cho biết trong Địa bạ năm 1815, xã Lại Dương của tổng Hạ huyện Bồng Sơn có phường Phủ cũ (舊府坊), phường có 1 ấp là Phủ Khánh khách hộ ấp (府慶客戶邑).(2)

            Với địa danh hành chánh phường Phủ cũ thời Gia Long, cho thấy địa danh này trước đó liên quan đến phủ đường, lỵ sở của một phủ. Xét Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ của Đốc suất Đoan quận công Bùi Thế Đạt dâng lên chúa Trịnh năm Giáp Ngọ 1774, phủ đường phủ Quy Nhơn bấy giờ là địa danh Nghị Trung phủ (誼中府). Nghị Trung phủ là phủ quan, hàm nghĩa là chỗ các quan, các bạn cùng triều làm việc.

Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ năm 1774

            Theo bản đồ, Nghị Trung phủ năm 1774 nằm trên đường Thiên lý thuộc huyện Bồng Sơn, chưa đến ranh giới huyện Phù Ly. Như vậy Nghị Trung phủ thuộc địa phận phường Phủ cũ của huyện Bồng Sơn năm 1815.

            Đèo Phủ cũ hiện thuộc xã Phù Mỹ Bắc, nhưng nguồn gốc địa danh của nó gắn liền với phường Bồng Sơn tỉnh Gia Lai ngày nay

 

Phan Trường Nghị

 

Chú thích:

(1) Đồng Khánh dư địa chí bản pdf, nhóm Ngô Đức Thọ dịch, tr 1550

(2) Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định Tập I, Nxb TpHCM 1996, tr 93

 

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2026

CÁC SẮC PHONG CỦA HỌ TRẦN Ở HOÀI NHƠN CÓ NGỤY TẠO KHÔNG !

            Đọc được status cho rằng các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn nằm trong dạng ngụy tạo, mình cũng phải lên tiếng. Vì mình tâm đắc với cách đặt câu hỏi, là cách giáo dục mà mình được học trước 1975, tâm đắc với chủ trương Khai Dân trí của các cụ ngày xưa, phải luôn luôn cầu học. Có đặt câu hỏi và trả lời mới sáng tỏ vấn đề, dù vấn đề đã trải qua mấy thế kỷ.

            Cho rằng các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn ngụy tạo, là hàng giả. Có thể tóm gọn theo mấy ý:

1. Sắc phong năm 1594, có đ cập Trấn Biên dinh Phó tướng Dương Đàm hầu . Nhưng theo Đại Nam thực lục, cơ quan hành chánh Trấn Biên dinh (鎮邉營) chỉ có mặt bắt đầu vào năm 1629. Vậy làm sao mà vào năm 1594 thời cha con Nguyễn Hoàng còn ở ngoài Bắc mà đã có dinh Trấn Biên xứ Quảng Nam được ?

2. Sắc phong năm 1564, Trần Ngọc Trách, cha của Phó tướng Dương Đàm hầu chỉ có tước là Huệ Trung Bá khi mất, nhưng lại được triều đình truy phong hàm Kim tử Vinh Lộc Đại phu. Làm sao mà lại được truy phong tới chánh nhất phẩm để mà được đặc thụ hàm Kim tử Vinh Lộc Đại phu?

3. Với sắc phong thần thời chúa Nguyễn Phước Trăn. Phong cho Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân là “thượng đẳng phúc thần”. Toàn bộ các chúa Nguyễn đều dùng niên hiệu nhà Lê, phong thần như thế thì dùng niên hiệu gì ? Và quan trọng hơn là dùng ấn gì ?

4. Với sắc phong cho Trần Đức Hòa tập ấm. Trần Ngọc Phân là một Võ quan, con của ông là Trần Đức Hòa được tập ấm chức Hoằng Tín đại phu lại thuộc Văn giai. Lẽ ra con của ông phải được tập ấm theo Võ giai chứ! Sau Trần Đức Hòa cũng là một Võ quan, nó không hợp lý, và cũng là ngụy tạo vậy!

            Mình cũng tạm tóm gọn giải thích những gì mình hiểu Chuyện xưa, vì sau 1975 mình có được học Lịch sử của trường lớp nào đâu!

1. Mình thấy Đại Nam thực lục Tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf trang 39, chép năm 1602 Nguyễn Hoàng vượt đèo Hải Vân vào Điện Bàn:

    + Bây giờ Khám lý phủ Hoài Nhơn (nay thuộc Bình Định) là Trần Đức Hòa (bấy giờ gọi là Cống quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, Phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến, chúa đãi rất hậu.

      Cũng vậy ở trang 49 xác định sự kiện vào năm 1629:

+ Văn Phong ở Phú Yên dùng quân Chiêm Thành để làm phản

Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh (con trưởng Mạc Cảnh Huống, lấy công chúa Ngọc Liên, cho theo quốc tính, sau đổi làm [hệ tính] Nguyễn Hữu) đi đánh dẹp yên và lập dinh Trấn Biên. (Khi mới mở mang, những nơi đầu địa giới đều gọi là Trấn Biên). Vì có công ấy, đặc biệt cho dùng ấn son.

            Nếu xét Đại Nam thực lục đã xác nhận: “Khi mới mở mang, những nơi đầu địa giới đều gọi là Trấn Biên”, mường tượng ra cách chép của Quốc sử quán triều Nguyền, không phải là bắt đầu từ năm 1629 mới có dinh Trấn biên. Xét năm 1594 dinh Quảng Nam là địa đầu cương vực phía Nam của Lê-Trịnh, Quảng Nam dinh đã có động thái mở về phía Nam, đến 1611 lập ra phủ Phú Yên. Năm 1593 Nguyễn Hoàng bị lưu lại ở đất Bắc, năm sau có sắc của vua Lê phong Phó tướng dinh Quảng Nam cho Dương Đàm hầu. Không thể không có sự vận động của Nguyễn Hoàng, để có người chấp chưởng công việc ở Quảng Nam thay ông, vì ông còn ở đất Bắc. Sắc phong năm Quang Hưng thứ 17 (tức năm 1594) của triều Lê không có gì trái ngược với sử liệu.

2. Xem trong Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú về Cấp bậc phong ấm cho Cha mẹ, Vợ con các công thần ở trang 634 sách đã dẫn, Tập I, Nxb Giáo dục 2005 bản pdf, thì với các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn, mình hiểu thế nầy:

Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y Trần Ngọc Phân được phong tước Dương Đàm hầu năm 1564, nên Cha mẹ, Vợ con của Dương Đàm hầu cũng được ban tước phẩm theo đúng điển lệ đời Hồng Đức, công thần thuộc Võ ban được tước Hầu thì Cha mẹ được phong kém con một bậc:

+ cha và ông : phong Bá

+ mẹ và bà : được Tự phu nhân

+ vợ : được Chánh phu nhân

+ trưởng nam : được Hoằng Tín đại phu

            Xét sắc truy tặng cha của Dương Đàm hầu là Trần Ngọc Trách tước Huệ Trung bá, hàm Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu là ban cho người được Ấm phong vừa mới mất. Hàm Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu là hàm Tản quan Chánh nhất phẩm, có phẩm nhưng không có thực chức. Dù Trần Ngọc Trách mất hay còn tại thế thì tước phẩm cũng đều đúng với điển lệ đời Hồng Đức. Nếu sắc phong là hàng giả thì cũng khá khen kẻ ngụy tạo nắm vững Quan chế đời Lê.

3. Cũng vậy, với sắc phong trao chức Hoằng Tín đại phu cho Trưởng nam của Dương Đàm hầu là Trần Đức Hòa, thấy đúng với điển lệ Ấm phong đời Hồng Đức mà Phan Huy Chú đã khảo.

Còn vấn đề Hoằng Tín đại phu thuộc Văn giai! Mình không có điều kiện tham khảo hết các sắc phong thời Lê, công thần thuộc Võ giai, ấm phong cho con phải theo đúng Võ giai, chưa rõ có đạo sắc nào như vậy hay không. Nhưng mình nghĩ Hoằng Tín đại phu cũng là chức Tản quan thuộc Văn giai thì ở bước đầu tập ấm, Cha thuộc Văn giai hay Võ giai không có gì phải phân vân. Bước đầu tập ấm phải học, phải tập Lễ đã.

4. Khảo các sắc phong của họ Trần là để đối chiếu Tường thuật của Cristoforo Borri năm 1631, ông đã viết ở Bình Định ra sao, tâm thế của mình là vậy. Lại nữa về ấn triện mình không có chuyên môn, nên không được hiểu sâu vấn đề mà chủ nhân status đã đặt ra, việc nầy phải dành cho những nhà chuyên trách. Nhưng là câu hỏi hay, mình cũng lạm bàn:

+  Báo chí thường mang tính tô đậm sự việc thông tin. Sắc phong thần đời chúa Nguyễn Phúc Trăn, niên hiệu của vua Lê Hy Tông là năm Chánh Hòa thứ 10 (tức năm 1689) do Câu kê kiêm Tri bạ Trần Đình Ân “đối chiếu sổ bộ và soạn thảo” – hiểu theo nghĩa của từ Đối đồng (對同). Bản sắc là tặng thần hiệu Phu Nghĩa chi thần cho Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y, Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự (tức Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân).

     Với thần hiệu Phu Nghĩa chi thần, chưa xếp bậc Hạ đẳng, Trung đẳng hay Thượng đẳng thần gì hết, tức đó là sắc ban thần lần đầu tiên cho Dương Đàm hầu.

     Chưa thấy sắc tặng cho Dương Đàm hầu là Thượng đẳng Phúc thần! Chẳng qua chỉ là nghe nói đi rồi tô đậm lại (sic!).

            Xem vậy, các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn xét qua sử liệu, thấy nó không là hàng giả. Nhưng mình tâm đắc với cách đặt câu hỏi của chủ nhân status. Mình cũng rất tâm đắc tâm thế của chủ nhân, nên mình nay cũng bắt chước có lời: Dĩ nhiên mình có thể sai, mời người đọc lên tiếng để chúng ta cùng học hỏi.

 Phan Trường Nghị

 .



Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

TRẦN TỘC QUA TƯỜNG THUẬT CỦA CRISTIFORO BORRI (2)

 

Đất Hoài Nhơn trên Giáp Ngọ niên Bình Nan đồ năm 1774

QUAN GOUVERNEUR DE PULUCAMBI TRONG TƯỜNG THUẬT CỦA BORRI  

            Pulucambi là phủ Quy Nhơn của Xứ Đàng Trong, các giáo sĩ phương Tây thế kỷ XVII đã chép theo ngôn ngữ giao thương của các nước Âu Tây thời bấy giờ. Trong Tường Thuật Về Sứ Mạng Mới Của Các Linh Mục Dòng Jésus Tại Vương Quốc An Nam, Linh mục Cristoforo Borri gọi người bảo trợ đưa các thừa sai về Nước Mặn lập trú sở truyền giáo là Le Gouverneur de Pulucambi. Có lẽ nên dịch đúng nghĩa của nó là người Đứng đầu ở phủ Quy Nhơn, hoặc người Toàn quyền ở phủ Quy Nhơn, nếu dịch là quan Tuần phủ Quy Nhơn, người đọc sẽ mơ hồ cho là một ông Tuần phủ nào đó!

            Dựa theo bản Việt ngữ Xứ Đàng Trong của Nxb Tổng Hợp TpHCM năm 2019, và tập san Đô Thành Hiếu Cổ số tháng 7-12 năm 1931 có bản tiếng Pháp của Bonifacy, ghi nhận xem nhân vật Le Gouverneur de Pulucambi mà Cristoforo Borri đã mô tả:

1) Quan Gouverneur de Pulucambi xuất hiện trong Tường thuật

            Năm 1616 tại Turon (Đà Nẵng), một vụ hạn hán đã khiến chúa Quảng Nam (thế tử Nguyễn Phúc Kỳ) trục xuất các thừa sai ở đây, để xoa dịu giới onsaij đang cho rằng đất nước hạn hán vì thần linh trừng phạt dân chúng, họ đã để người ngoại quốc vào rao giảng đạo trái ngược với việc phụng thờ. Các pháp sư (Borri chép là onsaij) sau khi cầu đảo chỉ được một ít mưa, dù không đủ nhiều đã phỉ báng các thừa sai phụng sự Thiên chúa. Dân Đà Nẵng đã đốt nhà thờ và Đức cha Francesco de Buzome phải lưu lạc, hấp hối ngoài bãi hoang. Quan Gouverneur de Pulucambi có mặt ở Đà Nẵng thấy vậy, động lòng thương xót đưa Đức cha Buzome về Quy Nhơn chữa bệnh.

            Năm 1618, Cristoforo Borri từ Macao nhận sứ vụ đến Hội An, trong sự kiện dựng Thánh giá cho nghĩa trang tín đồ Công giáo, ông gặp quan Gouverneur de Pulucambi và Đức cha Buzome. Sau đó quan Gouverneur de Pulucambi đã đưa các thừa sai Francesco de Buzome, Francesco di Pina, Cristoforo Borri cùng về Pulucambi (phủ Quy Nhơn) để lập trú sở (residentia) truyền giáo.

2) Quan Gouverneur de Pulucambi có thẩm quyền và uy thế cả bên ngoài địa phận phủ Quy Nhơn

            Trên đường về Quy Nhơn thuyền cập các cảng ven biển Quảng Ngãi, Borri mô tả:

Chúng tôi thỏa chí dong buồm suốt 12 ngày, sáng và chiều cập bến, bởi vì tất cả các cảng đều nằm sát thị trấn hoặc thành phố lớn của phủ Quảng Nghĩa, ở đây quan Tuần phủ cũng có uy thế như ở Quy Nhơn vậy.(1)

Nguyên bản tiếng Pháp : Avec cette commodité, nous naviguâmes douze grandes journées, abordant dans les ports le matin et le soir, car tous les ports étaient situés près des bourgs, ou des grandes cités de la province de Quanghia, dans laquelle le gouverneur avait la même autorité que dans sa province de Pulucambi.(2)

            Xét từ autorité trong câu văn, với Việt ngữ nó không chỉ mang nghĩa uy thế, nó còn bao hàm nghĩa quyền lực – quyền hạn, có quyền hạn… Như vậy đủ nghĩa là “quan le gouverneur de Pulucambi cũng có thẩm quyền và uy thế ở phủ Quảng Ngãi giống như ở phủ Quy Nhơn vậy”.

3) Quê quán của Quan Gouverneur de Pulucambi

            Theo tập tục dù mất ở đâu, người Việt cũng thường an táng ở quê nhà. Nếu mất ở xa, sau cháu con cũng thường cải táng đem về quê, để dễ bề hương khói. Xét Borri ghi nhận quan Gouverneur de Pulucambi mất ở vùng phía Nam Bình Định, phải đưa quan tài đi tới 3 ngày đường ra Chifu an táng.

            Xét bản đồ do sác thừa sai dòng Jésus vẽ xứ Đàng Trong năm 1650, thấy phủ Quy Nhơn (Pulocambi/Pulucambi) tính từ Nam ra Bắc có 3 địa danh: Nehot Man, Nehot Nohot và Benda nằm bên con sông, mỗi địa danh có vẽ biểu tượng một thành phố. Có thể xác nhận đó là 3 thành phố Nước Mặn, Nước Ngọt và Bến Đá, là 3 huyện Tuy Viễn, Phù Ly và Bồng Sơn thời bấy giờ.

            Chifu là ký âm của các thừa sai gọi cho cửa biển Thì Phú/Thời Phú tức là cửa biển An Dũ ngày nay. Vậy quan Gouverneur de Pulucambi an táng ở nơi thuộc thành phố Bến Đá, phía Bắc Bình Định ngày nay. Ở đây có tập quán đãi tiệc “mâm cao cỗ đầy” mà ở phía Nam Bình Định không có. Trong Tường thuật của Borri có mô tả cảnh tang quyến đãi khách đưa tang, khách viếng tang tiệc cỗ đầy mâm cao:

Tiệc tùng tuy vậy vẫn tiếp tục duy trì cho gần hai ngàn chức sắc, mỗi người một bàn nhỏ, và theo lệ, mỗi bàn bày biện hơn hai trăm món ăn.(3)

Nguyên bản tiếng Pháp: Les banquets se continuaient cependant pour près de deux mille personnes de qualité, ayant chacune leur petite table, comme il est coutume, chaque table étant chargée de plus de deux cents plats.(4)

4) Trong gia đình, Quan Gouverneur de Pulucambi có ít nhất 2 chị em gái

            Một người ở quãng đường từ cửa Kim Bồng đến phủ đường Quy Nhơn, khi đoàn thừa sai đến đầu địa phận Pulucmbi rời thuyền chuyển sang đi đường bộ. Tại nhà chị/em gái của Quan Gouverneur các thừa sai nghỉ chân, được thết đãi các món ăn nấu theo kiểu của người Âu:

Tại nhà của một người chị em gái của quan Tuần phủ, người ta dọn ra cho chúng tôi một bữa đại tiệc hoành tráng với những món ăn không chỉ đa dạng, chất lượng, dồi dào mà còn phong phú về khẩu vị, có cả những món nấu theo kiểu Âu dù cho quan Tuần phủ lẫn những người nhà chẳng hề nếm đến chúng.(5)

Nguyên bản tiếng Pháp : Dans la maison d’une de ses sœurs, on nous offrit un banquet spendide, non seulement par la variété, la quantité et l’abondance des plats, mais encore plus par la variété des assaisonnements, nous ayant fait préparer toutes choses à notre mode d’Europe, bien que ni le gouverneur, ni d’autres personnes de la maison n’en goûtassent.(6)

            Một người xuất hiện trong lễ chiêu hồn cho quan Gouverneur de Pulucambi, khi ông mất vì cảm nắng ở Trại săn. Người nầy tuổi tác khá cao phải chống gậy, đi lại phải có người dìu đỡ. Décrépite có nghĩa là đã lọm khọm, lụ khụ.

Cuối cùng xuất hiện một người chị mà lúc sinh thời, quan Tuần phủ yêu thương nhất, bà ấy cũng cầu xin ân huệ này, và đột nhiên bà có những dấu hiệu của quỷ nhập bởi vì vốn tuổi tác đã cao mà bỗng dưng bà bước đi không cần ai dìu đỡ. Trước sự kinh ngạc của mọi người, bà bắt đầu nhảy múa, uyển chuyển và nhẹ nhàng hệt một cô gái trẻ, và cây gậy bị bà ném đi lúc nãy thì vẫn lơ lửng trong không trung(7)

A la fin comparut une sœur du gouverneur, qu’il avait aimée plus que toutes les autres pendant sa vie, elle demanda elle aussi que cette faveur lui fut accordée et donna subitement les signes manifestes d’être possédée du démon, car étant déjà décrépite par l’âge, et pouvant à peine marcher sans soutien, elle commença, au grand étonnement des assistants, à danser, aussi rapide et légère qu’une jeune fille, et son bâton, qu’elle avait jeté, resta suspendu en l’air pendant…(8)

5) Trong gia đình, Quan Gouverneur de Pulucambi có con trai là Phó toàn quyền của phủ Quy Nhơn

            Khi đưa quan tài quan Gouverneur de Pulucambi ra Chifu (thuộc thành phố Benda) an táng, sau đó Borri có nhận xét:

+  Theo lệnh chúa, chi phí cho những việc này ăn vào lương bổng ba năm của quan Tuần phủ, bởi lẽ suốt thời gian này không có ai thay thế vị trí của ông, người ta tin rằng linh hồn ông đã được phong thần nên ông vẫn tiếp tục cai quản đất này. Tuy nhiên con trai ông được bổ nhiệm chức Hiệp trấn và Cai bạ.(9)

Nguyên bản tiếng Pháp : Par ordre du roi, tous les revenus assignés durant ces trois ans au gouverneur de la province, car, pendant ce temps là, aucun autre gouverneur ne fut nommé; on était persuadé que l'âme du défunt, déjà placée au nombre des dieux, pouvait continuer à gouverner pendant ces trois ans. On lui substitua cependant, pour vice-gouverneur et lieutenant, son propre fils,(10)

            Theo tục lệ ngày xưa khi cha mẹ mất, người con là sĩ tử không được phép đi thi, hoặc nếu là quan chức phải nghỉ việc, phải ở nhà cư tang 3 năm cho tròn đạo hiếu. Năm Cristoforo Borri ở Nước Mặn, khi quan Gouverneur de Pulucambi mất, Borri chép: người con đang là vice-gouverneur (Phó toàn quyền phủ Quy Nhơn) được bổ nhiệm thay thế chức của cha. Tức là bấy giờ Pulucambi chắc đang trong tình thế không thể vắng chủ. Và con ông là Phó toàn quyền, mà cũng là một võ quan (hiểu theo nghĩa của từ mà Borri diễn giải: lieutenant) được bổ nhiệm liền không phải cư tang theo hạn định.

6) Quan Gouverneur de Pulucambi trong Tường thuật của Borri là ai !?

1._  Điều trước tiên nhận thấy ngay Phó tướng Quảng Nam Trần Ngọc Phân mới đủ thẩm quyền ở Hội An tiếp xúc các thừa sai đang bị xua đuổi, xa lánh. Ông mới đủ quyền đưa các linh mục nầy về Nước Mặn, xây dựng nhà thờ cho họ như ngoài Đà Nẵng.

Và tại Quảng Ngãi, Phó tướng Quảng Nam cũng có thẩm quyền và uy thế ở đây hơn là Trần Đức Hòa. Xét theo quyền hạn Khám lý phủ Hoài Nhơn không thể có thẩm quyền ở phủ Quảng Ngãi được, dù cho Trần Đức Hòa được kề cận Chúa Đàng Trong.

2._  Xét chị/em gái của quan Gouverneur de Pulucambi xuất hiện trong lễ chiêu hồn tuổi đã cao, lọm khọm thì quan Gouverneur de Pulucambi cũng phải già. Ở đây tuổi của Trần Ngọc Phân phải già hơn tuổi của Trần Đức Hòa là điều hiển nhiên, không có gì phải lý giải.

3._  Xét con của quan Gouverneur de Pulucambi là vice-gouverneur (Phó toàn quyền phủ Quy Nhơn) : Con của Trần Ngọc Phân là Trần Đức Hòa.  Trần Đức Hòa với chức Khám lý tại Quy Nhơn, hiện chỉ dưới quyền cha là Phó tướng Quảng Nam.

            Trần ngọc Phân là Phó tướng Quảng Nam, hẳn nhiên thẩm quyền của ông ở Quy Nhơn phải đứng đầu, nên dưới con mắt của Borri, Trần Ngọc Phân là Le Gouverneur de Pulucambi. Borri gọi Khám lý phủ Quy Nhơn Trần Đức Hòa là Vice-gouverneur de Pulucambi có gì là không hợp lý đâu. Nếu đặt Trần Đức Hòa vào vị trí Gouverneur de Pulucambi, con của ông là Trần Đức Nghi đến sau năm 1651 chỉ mới là Đề đốc phủ Quy Ninh (tức phủ Quy Nhơn), thì làm sao năm 1619-1620 là Phó Toàn quyền lên thay Cha để đứng đầu phủ Quy Nhơn và cả xứ Quảng Nam được!

            Phó Toàn quyền phủ Quy Nhơn được đặc cách bổ nhiệm thay thế chức của cha liền, không đợi qua hết thời hạn cư tang, vì lúc bấy giờ tình hình của xứ Quảng Nam lắm bề bộn. Phía Bắc thì 2 em của chúa Sãi âm mưu liên kết với quân Trịnh để soán ngôi chúa của anh. Phía Nam thì Luu thủ phủ Phú Yên liên kết với người Chiêm manh nha “làm phản”!

            Tình hình phía Bắc của xứ Quảng Nam theo Đại Nam thực lục chép vào năm Canh Thân 1620:

+  Chưởng cơ là Hiệp và Trạch (con thứ 7, thứ 8 của Thái tổ) mưu nổi loạn, gửi mật thư xin họ Trịnh phát binh, tự mình làm nội ứng, hẹn khi nên việc thì chia đất này cho trấn giữ. Trịnh Tráng khiến đô đốc Nguyễn Khải đem 5.000 quân đóng ở Nhật Lệ (thuộc huyện Phong Lộc) để đợi. Hiệp và Trạch sợ chưởng cơ Tôn Thất Tuyên (con thứ 4 của Hòa quận công Tôn Thất Hà) nên chưa dám hành động.(11)

            Còn phía Nam, Đại Nam thực lục chép vào năm Kỷ Tị 1629:

Văn Phong ở Phú Yên dùng quân Chiêm Thành để làm phản. Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh (con trưởng Mạc Cảnh Huống, lấy công chúa Ngọc Liên, cho theo quốc tính, sau đổi làm [hệ tính] Nguyễn Hữu) đi đánh dẹp yên và lập dinh Trấn Biên. (Khi mới mở mang, những nơi đầu địa giới đều gọi là Trấn Biên). Vì có công ấy, đặc biệt cho dùng ấn son.(12)

            Chức Lưu thủ là tên gọi của chức Tổng binh ngày trước, tức cũng như là chức Khám lý lúc bấy giờ. Lưu thủ Văn Phong (sử không chép họ của ông) được giao trấn giữ phủ Phú Yên năm 1611, sau ông liên kết với người Chiêm bị gọi là làm phản. Đến năm 1629 thì Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh được chúa Sãi sai vào đánh dẹp và lập ra doanh Trấn Biên, tách Phú Yên ra khỏi quân doanh Quảng Nam. Việc được thực lục chép năm 1629, nhưng manh nha làm phản, liên kết với người Chiêm ít gì cũng xảy ra vào năm 1620.

            Ở đây xâu chuỗi lại, thấy được khoảng trống của sử liệu Việt Nam: Năm 1602 Đại Nam thực lục ghi nhận Phó tướng Quảng Nam là Trần Ngọc Phân. Và năm 1629 ghi nhận Phó tướng là Nguyễn Phúc Vinh.

            Nếu nối kết với Tường thuật của Borri, nhận ra khi quan Toàn quyền phủ Quy Nhơn (là Phó tướng Quảng Nam Trần Ngọc Phân) mất, con của ông (là Phó toàn quyền phủ Quy Nhơn) được bổ nhiệm thay chức của cha. Như vậy Trần Đức Hòa có thể đã đảm nhiệm chức Phó tướng Quảng Nam thay cha. Đến năm 1629 mới thấy sách sử của Quốc sử quán triều Nguyễn chép chức Phó tướng do Nguyễn Phúc Vinh đảm nhiệm, và kể từ thời điểm nầy phủ Phú Yên là quân doanh Trấn Biên.

7) Phó tướng Trần Ngọc Phân có còn tại thế khi Cristoforo Borri gọi ông là Quan Gouverneur de Pulucambi không!

            Nếu xét sự kiện năm 1559 Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y Hoàng Đình Ái được phong Vinh quận công lúc 32 tuổi. Đến năm 1564 Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y Trần Ngọc Phân được ban tước Dương Đàm hầu, tạm cho Trần Ngọc Phân cũng chừng 30 là hợp lý, vì vệ Cẩm Y bảo vệ vua và triều thần luôn bị Nhà mạc nhắm đến để tấn công thì người trẻ dễ có huân công. Cũng hợp lý nữa vì lúc ấy, năm 1564 Trưởng nam của ông là Trần Đức Hòa tiếp nhận tản chức Hoằng Tín đại phu thuộc hạ ban, tức dự hàng Tòng thất phẩm. Tản chức là chức quan không thực chức, nhưng theo điển lệ đời Hồng Đức mà đời Trung hưng tuân theo thì Hoằng tín đại phu phải dự hàng Chánh ngũ phẩm.(13)

            Sắc trao chức Hoằng Tín đại phu cho Trần Đức Hòa thuộc hạ ban, không được Chánh ngũ phẩm vì tuổi của ông lúc ấy còn nhỏ, phải tập sự chờ đủ tuổi thành niên, mới đủ thông tự (通敘) xếp đúng bậc được. Thông tự là những chuẩn mức thứ tự, được căn cứ để xếp thứ bậc quan lại.

            Đoán định Ông lúc ấy dưới 15 tuổi. Dựa theo sắc phong ngày 12 tháng 6 năm Quang Hưng thứ 8 (tức năm 1585), sắc cho biết trước đó Trần Đức Hòa theo Tả tướng Trường quốc công Trịnh Tùng đánh giặc có công nên được ban tước Phước Điền hầu. Sớm được tước hầu thì cũng phải trên dưới 20. Từ năm 1564 Trần Đức Hòa dưới 15 tuổi. Khi theo Trịnh Tùng đánh Mạc Kính Điển năm 1572 thì bấy giờ Ông đúng là cỡ 20 – 22 tuổi.

            Mở được khởi điểm: năm 1564 Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y Dương Đàm Hầu Trần Ngọc Phân chừng 30. Đến năm 1594 được phong Phó tướng quân doanh Quảng Nam thì Ông vừa 60. Năm 1618 Cristoforo Borri qua Nước Mặn thì Phó tướng Quảng Nam Dương Đàm hầu chưa được 85 tuổi. Với tuổi nầy ông về hưu chưa!

            Lệ trí sĩ thời Lê được Phan Huy Chú khảo chứng trong Quan Chức chí của Lịch triều Hiến chương loại chí:

+  Đến đầu thời Trung hưng, các đại thần được về nghỉ việc, hạn tuổi chưa nhất định (như Thái phó Nguyễn Thực, Thiếu phó Nguyễn Minh Triết về hưu đều 80 tuổi).(14)

            Cũng theo khảo chứng đó, Thượng thư Binh bộ Nguyễn Khải về hưu ở tuổi 78, Tể tướng Phạm Công Trứ (1600-1675) về hưu ở tuổi 70. Đến đời Lê Hiển Tông năm 1720 cho 65 tuổi thì được về nghỉ, từ đó về sau mới thành nếp cho lệ trí sĩ nghỉ hưu. Quãng đầu đời Trung hưng việc về hưu chưa có hạn tuổi nhất định. Như vậy thời bấy giờ, quãng 1618 Trần Ngọc Phân vẫn còn đương chức nếu còn tại thế.

            Hẳn là như vậy, dù tuổi bát tuần nhưng còn cưỡi Voi đi săn được, Trần Ngọc Phân còn sức khỏe nên còn đương chức. Trong khi cùng lứa thì người chị/em gái của Ông thấy đã lọm khọm, đi phải có người dìu đỡ như Cristoforo Borri đã mô tả.

            Qua vậy, rõ ràng bóng dáng của Phó tướng Quảng Nam Trần Ngọc Phân là Le Gouverneur de Pulucambi trong Tường thuật của Linh mục Cristoforo Borri. Việc nối kết để nhận diện hản nhiên không thể gọi là thông suốt, nhưng ít ra cũng giải thích được phân vân của nhiều người

+  Thừa nhận Le Gouverneur de Pulucambi là Trần Đức Hòa, nhưng Borri chép là Ông mất quãng năm 1619-1620, trong khi thư tịch cổ Việt Nam chép Cống quận Trần Đức Hòa còn tiến cử Đào Duy Từ lên chúa Sãi năm 1623 hoặc 1627 

Phan Trường Nghị


Chú thích:

(1)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.152

(2)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.348

(3)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.168

(4)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr 358

 (5)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.153

 (6)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.349

 (7)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.165

 (8)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.356

 (9)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.169

(10)   Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.359

(11)   Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr.40

(12)   Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr.49

(13)   Lịch triều Hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục 2005 bản pdf, tr.629

(14)   Lịch triều Hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục 2005 bản pdf, tr.663

 

.