Ảnh minh họa quân Tả đồn của Lê Chất đi thong thả khua chiêng trống
Hiểu theo nghĩa thông thường, quân
Ngự lâm là loại quân hậu cận, tinh nhuệ, được tuyển chọn kỹ lưỡng, bố trí ở bên
cạnh vua, bảo vệ an toàn cho vua. Nhưng trong trận chiến tiến ra Quy Nhơn giao
tranh với nhà Tây Sơn những năm 1799 - 1802, trong quân thứ của Nguyễn vương Phúc Ánh có binh chủng Quân Ngự Lâm mà ở đây quân binh đều kén
lấy người của Quy Nhơn, hầu hết chỉ huy - kể cả tướng lĩnh cao cấp lại là hàng
tướng của Tây Sơn theo về. Trong trận chiến, đội quân Ngự lâm nầy đã có nguyên
một quân hiệu trở ngược lại ngọn giáo làm khốn đốn cho quân của Nguyễn vương
không ít, làm cho Phúc Ánh phải bao phen gọi là lao tam khổ tứ, ăn chẳng ngon
mà ngủ cũng không yên.
Nguyên
trước đây, năm 1793, quân Gia Định của Nguyễn Ánh nương theo gió mùa tiến ra cửa
Thị Nại, vây hãm Hoàng Đế thành của Thái Đức Nguyễn Nhạc. Quang Toản ở Phú Xuân
cho đại binh vào giải cứu Quy Nhơn rồi kê biên luôn kho tàng, võ khố, khiến bác
của vua là Thái Đức Nguyễn Nhạc uất ức mà chết. Việc này đã gây không ít nỗi thất
vọng trong lòng tướng sĩ nhà Tây Sơn. Đến năm Mậu Ngọ 1798, con của Thái Đức là
Nguyễn Bảo cũng bị binh Phú Xuân vào bắt giết càng làm cho nhà Tây Sơn ly tán.
Một số thuộc tướng của Nguyễn Nhạc đã bỏ vào Nam theo hàng Nguyễn Ánh. Hàng loạt
các Đại Đô đốc Đoàn Văn Cát, Lê Chất, Võ Đình Giai, Nguyễn Văn Điểm, các Đô đốc
Lê Văn Niệm, Hồ Văn Viện, Trần Văn Lân, Đô úy Mai Gia Cương, Nguyễn Văn Trí… chạy
về với quân thứ Gia Định. Những tướng lĩnh nầy sau sẽ là cấp chỉ huy Quân Ngự Lâm của Nguyễn Phúc Ánh.
Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1799, Nguyễn Ánh
đánh chiếm được Quy Nhơn, đổi thành Quy Nhơn (Hoàng Đế thành) làm thành Bình Định.
Tháng 8 cho kén binh ở phủ Quy Nhơn, theo ngạch binh, sổ sách cũ của Tây Sơn mà
tuyển được gần 19.000 quân, biên thành Chi
Hiệu Đội Ngũ.(1) Lấy quân ở 2
Thuộc Võng Nhi, Hà Bạc và các xã miền dưới sung vào Thủy quân. Lấy quân của 4
Thuộc An Ngãi, Nhơn Ân, Nghĩa Hòa, Sơn Điền của huyện Tuy Viễn đặt làm 5 Đồn
quân, gọi là Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân.(2) Biên chế mỗi Đồn có 5 Chi gọi là Trung
Chi, Tiền - Hậu - Tả - Hữu Chi; mỗi Chi gồm 5 Hiệu gọi là Trung Hiệu, Tiền - Hậu
- Tả - Hữu Hiệu; mỗi Hiệu có 2 Đội gọi là Nhất Đội và Nhị Đội.
Lược sơ các viên tướng quản lĩnh Ngũ
Đồn Ngự Lâm quân:
+ Trung Đồn quân Ngự Lâm: Đô Thống chế là Khâm sai Phó tướng Tổng nhung Cai đội Phan Tiến
Hoàng, trước là Cai cơ Phó tướng Tiền quân, bị giáng làm Cai đội vào tháng
Giêng năm 1798 lúc còn quản dinh Bình Thuận. Thống chế là Thuộc nội Vệ úy vệ Võ Uy - Trung Đồn quân Thần Sách
Hoàng Công Thành. Theo Liệt Truyện,
Thành người Phù Ly - Bình Định, Đô đốc của Tây Sơn theo vào Gia Định từ năm
1793.
+ Tiền Đồn quân Ngự Lâm: Đô Thống chế là Đại Đô đốc Đoàn Văn Cát của Tây Sơn,
người Bình Sơn - Quảng Ngãi. Làm trấn thủ Phú Yên, năm 1798 xảy ra binh biến Tiểu
triều Nguyễn Bảo, Cát bỏ vào Diên Khánh theo Nguyễn vương. Thống chế là Đô đốc Lê Văn Niệm của Tây Sơn, người Phù Ly - Bình Định,
mới theo về tháng 4 năm 1799.
+ Tả Đồn quân Ngự Lâm: Đô Thống chế là Đại Đô đốc Lê Chất của Tây Sơn. Thống chế là Đại Đô đốc Võ Đình Giai. Cả
hai đều là người Phù Ly - Bình Định, cùng theo về với quân Gia Định vào tháng
4 năm 1799.
+ Hữu Đồn quân Ngự Lâm: Thống chế là Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Vệ úy vệ Dương Võ - Tả Đồn
quân Thần Sách Từ Văn Chiêu. Chiêu nguyên trước là Tham tán của Thái Đức Nguyễn
Nhạc, tháng 2 năm 1794 đã có mặt ở Gia Định. Phó Thống chế là Đại đô đốc Nguyễn Văn Điểm của Tây Sơn, mới theo về
tháng 4 năm 1799.
+ Hậu Đồn quân Ngự Lâm: Thống chế là Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Vệ úy vệ Diệu Võ - Tả Đồn
quân Thần Sách Nguyễn Văn Phát. Theo Liệt
Truyện, Phát người Phù Ly, Bình Định, ở với Tây Sơn làm tới chức Chỉ huy,
từ năm 1793 đã theo vào với Gia Định. Còn Phó
Thống chế là Đô đốc Hồ Văn Viện của Tây Sơn, mới theo về Nguyễn vương tháng
4 năm 1799.
Binh
chế Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm là Đồn, Chi, Hiệu,
Đội, dưới Đội còn có Thập và Ngũ. Với hơn 18.900 binh tuyển được ở
huyện Tuy Viễn, phải phân lực lượng của 2 Thuộc Võng Nhi và Hà Bạc về với Thủy
binh, nên chưa xác định rõ mỗi Đồn quân Ngự Lâm gồm bao nhiêu quân lính. Nhưng
máy móc một chút, nếu một Đội có 5 Thập thì mỗi Hiệu sẽ có 100 quân, dẫn đến mỗi
Đồn khoảng 2.500 quân. Cộng lại 5 Đồn được 12.500, gần đúng với 2 phần 3 số quân là lính
đã kén tuyển ở An Ngãi, Nhơn Ân, Nghĩa Hòa, Sơn Điền, là 4 trong 6 Thuộc của
huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn thời bấy giờ.
Ít lâu sau Phó thống chế Hậu Đồn
quân Ngự lâm là Hồ Văn Viện xin lập 3 đội Chiến võ quân Lạc tòng (là quân binh
lưu lạc, không có tên trong sổ sách ở phủ Quy Nhơn, nay vui vẻ theo về). Nguyễn
vương y cho. Lại cho năm Đồn và hai Vệ
Thiên Trường, Tín Trực, từ Đô thống chế đến Đội trưởng Tham luận, đều được mộ lập
Thuộc quân theo mình sai sử.(3) Nhưng chính quyết định này đã làm lủng
củng đội quân ngay bước đầu thành lập. Tháng Chạp năm 1799, xảy ra chuyện ở Hậu
Đồn có việc sửa chữa sổ sách tuyển quân, che dấu sự nhập nhằng lính Lạc tòng với
lính trốn ở trong quân… Việc bị phát giác, Thống chế Hậu Đồn quân Ngự lâm là
Nguyễn Văn Phát và Tham tri Binh bộ Hồ Văn Định đều bị miễn chức. Nguyễn Ánh điều
Thống chế Trung Đồn là Hoàng Công Thành sang quản lãnh Hậu Đồn.
Mùa gió bấc thổi mạnh, Nguyễn vương
Phúc Ánh rút quân về Gia Định, đặt Ngũ Đồn Ngự Lâm dưới quyền sai bát của
Chưởng Hậu quân Võ Tánh, cùng cho trấn giữ thành Bình Định. Nhưng trong sách lược
điều binh phân hóa quân Tây Sơn mới tuyển, Phúc Ánh cho Chưởng Tiền quân Nguyễn
Văn Thành kiêm thống quản Tả Đồn quân Ngự lâm, đưa cả về đóng ở Trấn Biên (Biên
Hòa), Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức kiêm thống quản Hữu Đồn, đưa cả về trấn
đóng ở Mỹ Tho (Tiền Giang).(4)
Chẳng
bao lâu sau đại tướng Tây Sơn là Thiếu phó Trần Quang Diệu và Đại tư đồ Võ
Văn Dõng đem binh Phú Xuân vào hòng lấy lại Quy Nhơn. Ở Phú Yên, hàng tướng Phạm
Văn Điềm cũng bất thần quay ngược lại đánh úp quân Gia Định, Lưu thủ Phú Yên
quân Nguyễn Ánh là Hồ Đức Vạn không biết sống chết thế nào, một số thuộc tướng
kẻ chạy ra với Võ Tánh ngoài Bình Định, người chạy vô Diên Khánh. Tham đốc Phạm
Văn Điềm liên kết với binh Phú Xuân chiếm giữ Phú Yên, án ngữ, ngăn viện binh
Diên Khánh ra giải cứu Bình Định. Binh biến ở Phú Yên đã làm đảo ngược tình thế,
bất lợi cho quân Nam, khiến Nguyễn Ánh phải đưa binh trở ra Quy Nhơn mong giải
vây Thành Bình Định.
Kể từ đây, từ tháng Giêng năm 1800
cho đến 1802 là năm kết thúc trận chiến ở Quy Nhơn giữa Nguyễn Phúc Ánh với Nhà Tây
Sơn, binh chủng quân Ngự Lâm có 3 phiên hiệu Trung - Tiền - Hậu Đồn dưới
quyền của Chưởng Hậu quân Võ Tánh đang bị hãm trong thành Bình Định, 2 phiên hiệu
Tả - Hữu Đồn nằm trong biên chế lực lượng giải vây của Nguyễn Văn Thành và Nguyễn
Huỳnh Đức.
● Về Hậu Đồn Ngự Lâm Quân :
Binh Phú Xuân vào đến Quy Nhơn, Võ
Văn Dũng đưa thủy binh án ngữ cửa Thị Nại, còn Trần Quang Diệu đem bộ binh đắp
lũy 4 mặt chung quanh, vây kín thành Bình Định. Binh lương đầy đủ, thành trì vững
chắc nên Võ Tánh cố thủ, chia quân phòng ngự chặt. Đến tháng 4 năm 1800, Trung
Chi và Hữu Chi của Hậu Đồn Quân Ngự Lâm gây ra binh biến, giết quân giữ thành,
mở được cửa phía Bắc chờ đón quân Phú Xuân. Nhưng binh biến không thành công,
hơn 400 người đào thoát được về với Tây Sơn, số đồng mưu còn lại, theo Đại Nam Thực Lục cùng Hoàng Việt Hưng Long Chí thì đều bị Võ
Tánh đem ra giết hết.
Theo
thư tịch từ các nhà truyền giáo, lá thư viết
vào ngày 04.09.1801 của Longer
gởi cho 2 giáo sĩ Boiret và Descourvières (Nguyễn
Ngọc Cư dịch, Tập San Sử Địa số 21 - nxb Khai Trí, Sài Gòn 1971), cho thấy rõ số binh lính gây biến còn ở
trong thành bị Võ Tánh đem ra hành quyết
là chừng 700 đến 800 người, số thoát được ra ngoài gần 500 người.(5) Như vậy chắc chắn các Chi, Hiệu lính Hậu Đồn còn lại có gì đi
nữa cũng sẽ bị Võ Tánh khống chế, giám sát chặt chẽ, không cho chiến đấu, chỉ
phục dịch chiến trường như dạng lao công
đào binh… Qua binh biến nầy, cứ tạm xem như là Hậu Đồn Quân Ngự Lâm chỉ sau
vài tháng thành lập đã mất hiệu lực chiến đấu.
Thống chế trước đây của quân Ngự lâm
Hậu Đồn là Nguyễn Văn Phát bị miễn chức, sau chết trong quân không rõ vào lúc
nào, ở đâu. Nhưng chắc chắn là không chết ở trong thành Bình Định. Vì Thực Lục có chép là Ông được tặng Chưởng
cơ, thờ ở Miếu núi Một cửa Thị Nại (miếu ở Tháp Đôi) - nơi thờ Võ Di Nguy, Tống
Viết Phước và các tướng chết trận chết bệnh từ Quảng Ngãi đến Thị Nại…
Còn
Phó Thống chế Hồ Văn Viện kể từ khi về ở trong quân của Võ Tánh tại thành Bình
Định, cả trong Thực Lục cũng như Liệt Truyện không thấy ghi chép gì nữa.
Trong khi đó các chỉ huy cấp thấp như Trưởng hiệu, Cai đội Đội trưởng của các
phiên hiệu trong Ngũ Đồn quân Ngự lâm, thấy chép có người được thuyên chuyển
qua Quân Thần Sách, có người được ghi tên nơi các Miếu thờ… Xét theo hành trạng
của Hồ Văn Viện khi thành lập quân Ngự
lâm, khi thành lập đội Chiến võ quân
Lạc tòng, xét theo quy mô binh biến của
Hậu Đồn Quân Ngự Lâm, liên lạc được với Thiếu phó Trần Quang
Diệu ở bên ngoài thì chỉ là tướng lãnh cấp cao. Lá thư của Longer có
cho biết Trần Quang Diệu khi vào vây
thành Bình Định với hy vọng chiếm được thành là mong mỏi vào một cuộc nội phản ở
đây. Đầu mối nội phản ở thành Bình Định là ai? Đô đốc Hồ Văn Viện phải là người chỉ huy binh biến năm 1800.
● Về Trung Đồn Ngự Lâm Quân :
Khi Võ Tánh cùng Ngô Tùng Châu người
uống thuốc độc, người tự thiêu tuẩn tiết tại thành Bình Định tháng 5 - 1801, Trần
Quang Diệu đưa binh vào chiếm lĩnh thành mà không giết một ai. Có lẽ lính của đội
quân Ngự lâm trong thành lúc này đều là tù binh của quan Thiếu phó nhà Tây Sơn.
Tháng 2 năm 1802, Đô thống chế Trung
Đồn quân Ngự lâm là Phan Tiến Hoàng lẻn về được với Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh cho
lệ theo quân Lê Văn Duyệt. Sau thấy Tiến Hoàng có mặt đánh các trận ở Đạm Thủy
(Cát Minh - Phù Cát, Bình Định bây giờ)
và Tân Quan (Tam Quan - Hoài Nhơn, Bình Định
bây giờ). Dưới triều Gia Long, ra Bắc Hà, Tiến Hoàng thụ chức Trấn thủ Kinh
Bắc, rồi Lưu thủ Quảng Ngãi. Sau đi đánh giặc Đá Vách ở Quảng Ngãi bị thất bại,
Lê Văn Duyệt hài tội cho trói giải về kinh.
Còn Thống chế Trung Đồn Ngự lâm quân
Hoàng Công Thành trước đã điều sang quản lãnh Hậu Đồn, chết trong quân thứ, sau
được tặng Chưởng cơ, thờ ở Đền Song Trung - Chiêu Trung Từ, nơi thờ Võ Tánh,
Ngô Tùng Châu cùng các tướng chết trận chết bệnh ở trong thành Bình Định.
● Về Tiền Đồn Ngự Lâm Quân :
Cũng
trong tháng 2 năm 1802, Thống chế Tiền Đồn quân Ngự lâm là Lê Văn Niệm và Khâm
sai Cai đội Võ Viết Bảo cũng lẻn được về với Nguyễn
Ánh. Trong đợt về này còn có Phó Đô Thống chế Trung dinh quân Thần Sách là Phan
Văn Kỳ. Nguyên Phan Văn Kỳ và Vệ úy Nguyễn Văn Trí bị quân Tây Sơn bắt được vào
tháng Giêng năm 1801 trong trận Càn Dương (Cát
Tiến – Phù Cát bây giờ), còn Niệm và Bảo cùng quân Tiền Đồn Ngự lâm bấy lâu
bị hãm trong Thành Bình Định với Võ Tánh, tất cả đều là tù binh của Trần Quang
Diệu hồi tháng 5 năm 1801.
Sau nầy ra Bắc, Lê Văn Niệm thụ chức
Trấn thủ Thái Nguyên. Còn Đô Thống chế Tiền Đồn quân Ngự lâm Đoàn Văn Cát trước
đã chết trong quân tại thành Bình Định, sau thờ ở Đền Song Trung, được tặng Chưởng
cơ.
● Về Hữu Đồn Ngự Lâm Quân :
Để giải cứu cho thành Bình Định bị
Trần Quang Diệu vây hãm, tháng 5 – 1800 Nguyễn Ánh phái Nguyễn Huỳnh Đức kèm
sát Hữu Đồn quân Ngự lâm, sai Thống chế Từ Văn Chiêu và Phó thống chế Nguyễn
Văn Điểm đem quân Hữu đồn vượt núi Cù Mông tiến ra Phú Trung. Quân Hữu đồn cứ
trùng trình mãi, đến tháng 7 – 1800 thì Thống chế Từ Văn Chiêu đem hơn 500 lính
bản đồn quay về với Tây Sơn.
Kể từ thời điểm nầy Hữu Đồn quân Ngự
lâm được xem như là đã xóa sổ, Từ Văn Chiêu đem binh Hữu đồn về lại với Tây
Sơn, là lực lượng sẽ gây không ít tổn thất cho quân của Nguyễn vương sau đó.
Trong các trận chiến nẩy lửa với quân Nam hầu như đều có mặt Từ Văn Chiêu.
+ Trận Thị Dã (Canh Hiển – Vân Canh Bình Định là Gia Lai hiện
nay) tháng 11 năm Canh Tuất 1800, quân binh của Từ Văn Chiêu Chiêu đã kịch
liệt ngăn chống quân Nam. Tại đây Chiêu chặn bước tiến quân của chưởng Tiền quân Nguyễn
Văn Thành và Tả dinh quân Thần Sách Đô thống chế Lê Văn Duyệt (đến năm 1802 Lê Văn Duyệt mới được phong chưởng
Tả quân).(6)
+ Trận Càn Dương (Cát Tiến – Phù Cát, Gia Lai bây giờ),
tháng Giêng 1801, Chiêu bắt sống Thống chế Trung dinh của Thần Sách Quân
là Phan Văn Kỳ và Vệ úy vệ Tín Uy là Nguyễn Văn Trí, giết tại trận Vệ úy
vệ Trung Võ là Trần Văn Xung, Vệ úy vệ Uy Võ Hoàng Phước Bảo, Vệ
úy vệ Cung Võ Hoàng Văn Tứ.(7)
+ Trận Tân Quan (Tam Quan – Hoài Nhơn, Gia Lai bây giờ),
tháng Sáu năm 1801, Chiêu phục binh ở Hang Dơi bắt giết Trung dinh Thần Sách
Quân Đô Thống chế Tống Viết Phước.(8)
Các tướng quân Nam đều căm hận Từ
Văn Chiêu. Sau Từ Văn Chiêu bị bắt cùng các tướng tháp tùng Trần Quang Diệu lúc
chạy ra Thanh Chương - Nghệ An, Chiêu bị giết khi còn xiềng ở trong ngục. Giống
trường hợp Từ Văn Chiêu còn có Tham đốc Phạm Văn Điềm. Còn người sát cánh với Từ
Văn Chiêu là Phó Thống chế Hữu Đồn quân Ngự lâm Nguyễn Văn Điểm, sau bị xử chết
cùng với các đại tướng Tây Sơn vào tháng Một (cách gọi tháng 11 âm lịch trong sách xưa) năm 1802 trong lễ tuyên
cáo võ công, yết tế Thái miếu “dâng lễ hiến
phù” ở Phú Xuân.
● Về Tả Đồn Ngự Lâm Quân :
Ra
giải cứu thành Bình Định, Tả Đồn quân Ngự lâm bấy giờ thuộc sai phái của chưởng
Tiền quân Nguyễn Văn Thành, cánh quân từ cửa biển Xuân Đài (Sông Cầu – Phú Yên, nay thuộc Đắc Lắc) tiến ra theo hướng đèo Cù Mông. Ngay từ tháng
5 năm 1800, quân Tả đồn có nhiều tướng lĩnh (Phó trưởng chi Trung Chi Đỗ Văn Pháp, Phó Trưởng chi Hữu Chi Lương Văn Cương cùng Trưởng Hiệu Hậu Chi Nguyễn Văn Vân…) đã tìm cách trốn về với Tây
Sơn, có đêm đào thoát cùng hơn 200 lính.
Đô Thống chế Tả Đồn quân Ngự lâm là
Lê Chất, viên tướng mà vào triều Gia Long sau này, năm 1819 làm tới Tổng trấn Bắc
Thành. Nên dù có thế nào đi nữa, nói chung Tả Đồn Ngự Lâm Quân cũng tồn tại đến
năm 1802. Tháng 5 – 1802, vừa lên ngôi Gia Long liền đổi Tả Đồn quân Ngự lâm
làm dinh Hậu quân, thay thế phiên hiệu dinh Hậu quân của Võ Tánh đã bị xóa sổ ở
thành Bình Định. Gia Long phong cho Lê Chất làm Khâm sai chưởng Hậu quân Bình
Tây tướng quân.(9)
Còn Thống chế Võ Đình Giai trước đã
chết trong quân khi còn đóng binh ở Hoa An. Sau được tặng Chưởng Cơ, thờ ở Miếu
Hòn Nần vũng Cù Mông - nơi thờ Đô thống chế Hậu dinh quân Thần Sách Mai Đức Nghị
và các tướng chết trận chết bệnh từ Thị Dã đến Phú Yên… Trong quân thứ tướng
lĩnh Tả Đồn, có người họ thuộc với Giai là Đô đốc Võ Đình Duyên trước cũng theo
Giai về với quân Gia Định cùng lúc, là Trưởng chi Tiền chi Tả Đồn quân Ngự lâm.
Mùa xuân 1801 Duyên được thăng Ngự lâm quân Tả đồn Phó Thống chế, sau là Phó tướng
dinh Hậu quân.
● Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân :
Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm tồn tại trong
quân thứ Nguyễn Ánh chưa tròn đủ 3 năm. Binh chủng này xem ra đã không đem nhiều
kỳ vọng cho Nguyễn vương Phúc Ánh.
Các Đồn quân Trung, Tiền, Hậu đặt dưới
quyền sai bát của Chưởng Hậu quân Võ Tánh phòng ngự Thành Bình Định, nơi đây đã
xảy ra biến cố 2 Chi của Hậu Đồn là Trung Chi và Hữu Chi giết quân, mở cửa
thành để đào thoát về với Tây Sơn.
Còn với Hữu đồn, Nguyễn vương Phúc
Ánh cho giết Đô Thống chế Từ Văn Chiêu ngay khi ông còn bệnh ở trong ngục, đủ
biết quân Nam căm hận binh tướng Hữu Đồn Ngự lâm quân biết chừng nào.
Đối với Tả đồn, bên ngoài thì an ủy
phủ dụ nhưng bên trong Nguyễn Ánh không phải là không ghét cay ghét đắng Lê Chất,
viên tướng quản lĩnh Tả Đồn quân Ngự Lâm. Rất nhũn nhặn, nhưng đã có lần Nguyễn
Ánh phải cắn răng đồng tình với thuộc tướng quy trách nhiệm Lê Chất đã không
truy đuổi bắt Vua Quang Toản.
Tháng 5 năm 1801, khi Nguyễn Ánh bỏ
chiến trường Quy Nhơn tiến ra đánh lấy Phú Xuân, Quang Toản chạy ra Bắc, Lê Chất
được sai phái đuổi theo. Nhưng Lê Chất cứ “khua
trống mà đi thong thả. Khi quân đến châu Nam Bố Chính thì Quang Toản đã qua
sông đi rồi. Đến đây bị gọi về, đem dâng hai quả ấn ngụy. Vua cùng các quan bàn
việc đánh Tây Sơn, nói rằng: Quang Toản được thoát là tự người chứ không phải tự
trời”.(10)
Với Ngũ Đồn Ngự lâm quân, nói cho
cùng chỉ có Tả đồn của Lê Chất là có đem lại
chiến công cho quân Nam, nhưng thật ra các tướng lĩnh của quân
Nam cũng chẳng tin cậy gì đội quân này. Tháng 6 - 1800 Tiền quân Nguyễn Văn
Thành đã dâng sớ lên Nguyễn vương:
+ Số
quân của giặc hiện nay thêm nhiều, chúng dựa núi
đắp lũy, hiện đã vượt qua sau lưng quân ta, mà quân ta thì bị ốm, con số
có phần sút kém. Hơn nữa, quân Tả đồn thì mỗi ngày thường ra đầu hàng giặc,
trong quân hư thực thế nào giặc đều biết cả. Số còn lại cũng không đủ tin, nên
không dám sai khiến. Thần đương tính thế giặc, lánh chỗ khỏe, đánh chỗ yếu, đem
các quân đánh đằng trước, quân voi ngăn đằng sau. Nếu nay lại chia Tượng quân
làm hai, sợ quân chia thì sức yếu, chưa phải là kế vạn toàn”.(11)
Thống quản Tượng binh là Nguyễn Đức
Xuyên cũng theo đó dâng sớ nên rút quân Tả đồn về hành tại để khỏi lo về sau.
Còn theo Liệt Truyện thì ngày trước,
khi Lê Chất mới về hàng đầu, Nguyễn Ánh cho Chất ở trong quân của Võ Tánh,
nhưng Tánh cũng tìm cách đẩy Chất vô Gia Định.
Vậy điều gì đã khiến Nguyễn Phúc Ánh
cho thành lập đội quân với binh tướng đều toàn là người của Quy Nhơn. Tại sao
Vương cho lấy phiên hiệu là Quân Ngự Lâm.
Tại sao Vương phải bao phen lao tam khổ tứ an ủy, phủ dụ binh tướng đội quân sớm
đầu tối đánh nầy. Tại sao Vương phải đưa mẹ và vợ con của Chất vào tận Gia Định
cấp tiền lương nuôi nấng (!?).
Trước
tiên phải nói là Gia Định đất rộng nhưng người chưa đông. Lính Gia Định cũng đâu phải toàn tâm theo đuổi cuộc chiến, họ lẩn trốn, bỏ hàng ngũ khiến quan địa phương
phải bắt nhốt gia thuộc họ để làm áp lực. Năm 1798, Hoàng tử Cảnh từng xin cha:
+ Trai gái
có phân biệt, đó là chế độ xưa, người đàn bà bị giam kín một đêm, trọn đời khó
lòng biện bạch. Nay vợ con lính trốn bắt giam lẫn lộn, sợ không được phân biệt,
xin hạ lệnh cho hữu ty làm chốn giam riêng.(12)
Với
nhu cầu cho cuộc chiến, Nguyễn Ánh phải thu nạp nhiều quân binh người nước
ngoài, không riêng chỉ lính Tây dương người Pháp, người Y Pha Nho (Tây Ban Nha)
mà Bá Đa Lộc mang về. Khi Võ Tánh trấn giữ thành Bình Định, quân binh dưới quyền
ông ngoài lính bản dinh cùng với Ngũ Đồn quân Ngự lâm, các tướng sĩ Vệ
Võ Lương Trung chi Hữu quân, Đội Thuộc Viên Trung chi Tiền quân, Tả chi Túc Uy
dinh Tiên phong, hai Vệ Thiên Trường và Tín Trực… còn thấy cả một vạn quân Xiêm
(đúng ra là quân Cao Miên) cũng có mặt ở đó.(13)
Lúc
đem binh giải vây Quy Nhơn, khi các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Xuyên
xin đưa Tả Đồn Ngự lâm quân về phía sau để tránh hậu họa, qua lời Dụ của Nguyễn
vương cho các tướng cũng thấy ở đây có mặt 5.000 lính Chân Lạp (Cao Miên) của
tướng Cao La Hâm Sâm:
+ Việc dụng binh cần phải biết địa hình. Thị Dã là nơi núi rừng hiểm hóc,
không phải là nơi dùng voi; mà đường Cù Mông thì từ Dự Nguyên đến Vân Sơn, Phú
Trung, địa thế bằng phẳng, rất lợi việc đánh bằng voi. Huống chi bọn giặc chỉ
phô trương hão
ở đấy, không phòng bị gì, chính nên nhân mà đánh chiếm lấy. Phải kén ngay voi đực
những con đã từng ra trận, cùng 100 tượng binh mà sai đi. Còn quân Tả đồn thì
hãy đợi khi quân Chân Lạp đến, sẽ có cách xử trí riêng, động gấp không phải là
hay.(14)
Lục
đục giữa quân Phú Xuân và quân Quy Nhơn đã tạo cơ may cho Phúc Ánh thu nạp được
binh lính Quy Nhơn về với mình. Với phiên chế của nhà Tây Sơn lấy Ấp làm Đội,
biến toàn dân đều làm lính đã cung cấp cho Nguyễn vương nguồn nhân lực tinh nhuệ,
dồi dào để bổ sung, tổ chức quân đội. Thuở thành lập, chỉ trong thời gian ngắn ở
Tuy Viễn mà Nguyễn vương đã kén được gần 19.000 quân, đội ngũ sắp sẵn, chỉ cần
biên chế lại là đã có liền phiên hiệu Ngũ
Đồn Ngự Lâm Quân. Lính Quy Nhơn ở đây có phải trước là lính Ngự lâm cũ của
Thái Đức Nguyễn Nhạc hay không!? Hay là Phúc Ánh lấy tên gọi Ngự lâm để vỗ về,
xem như lính Quy Nhơn mới kén tuyển là lính hậu cận của mình. Hay là Phúc Ánh
gieo rắc cho họ tự ám thị, xem đây là lực lượng của Thái Đức, xung trận đánh
binh Phú Xuân trả thù cho vua Thái Đức!
Phải
nói Nguyễn Phúc Ánh chẳng phải là kẻ lơ mơ nghệ thuật chiến tranh, mù mờ việc
thu phục kẻ về dưới trướng. Chẳng vậy đã không có Lê Chất theo về cúc cung tận
tụy. Chỉ cần lấy hiểu biết của Lê Chất về quân tình thủy binh Tây Sơn cũng đủ
giúp Nguyễn vương thu được thắng lợi ở trận đại hải chiến cửa Thị Nại, đối đầu
với Đại tư đồ Võ Văn Dõng tháng Giêng năm Tân Dậu 1801. Còn để đối phó với hạng
binh sĩ lúc nào cũng lăm le trốn về chủ cũ Tây Sơn, Phúc Ánh chẳng phải tay vừa. Thấy quân Ngũ Đồn Ngự lâm hầu như mỗi ngày đều có kẻ chạy về với giặc,
có lúc trốn đi tới mấy trăm người cùng với cấp chỉ huy, tháng 7 - 1800, Phúc
Ánh liền cho những lính ốm của Tả Đồn, Hữu Đồn Ngự lâm quân về “thăm nhà”, lính ốm bệnh thì đánh đấm được
ai, cho quách về nhà khỏi tốn quân lương, lính đã trốn đi thì đâu phải chỉ để về
thăm nhà! Kèm bên cạnh đó Nguyễn
vương ban lời Dụ, đọc lại lời Dụ mới thấy tầm răn đe của bộ tham mưu quân Nam:
+ Thương nhớ quê hương, ai không như thế. Bọn các ngươi từ năm ngoái về
thành Gia Định, năm nay lại theo đại binh đi đánh giặc, trải từ Hội An đến Thị
Dã, từ Lữ Quán đến Hoa Lộc, gian khổ chẳng từ, hoặc vì tên đạn mà bị thương, hoặc
nhiễm gió sương mà mắc bệnh, thiếu người nuôi nấng, lòng về lại càng thiết tha,
cho nên triều đình nghĩ thương, đặc biệt thả cho về. Nên về nói chuyện với những
người đã trốn trước, cũng vì nóng về, trên đã soi xét, nên bảo ban nhau, chớ
nên ngờ sợ, sớm muộn ta cũng lấy lại được Quy Nhơn, không bắt tội đâu.(15)
Vì
sao phần nhiều binh tướng của Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân đã không toàn tâm toàn ý ở lại
trong quân thứ của Nguyễn Ánh… Ngay như Đô đốc Nguyễn Đức Thu là em của Thống
quản Tượng binh quân Nam - chiến tướng Nguyễn Đức Xuyên, Thu theo Từ Văn Chiêu
phản nghịch Nguyễn Ánh, sau thất trận mới về hàng trở lại với quân Gia Định. Nếu
nói riêng Từ Văn Chiêu có hằn thù cá nhân với tướng của quân Nam là Tống Viết
Phước, thì binh tướng Hậu Đồn quân Ngự lâm gây ra binh biến ở Thành Bình Định lẽ
nào cũng có hằn thù với Võ Tánh (!!!). Nếu nói Lê Chất phải ở lại trong quân của Phúc Ánh vì Chất có cơ tâm làm quan
làm tướng, theo Nguyễn vương để trả thù binh Phú Xuân đã giết Đại Tư lệ Lê
Trung, hay vì mẹ già, vợ yếu, con thơ của Chất đang ở trong tay của Nguyễn
vương tận trong Gia Định (!).
Các
tướng lĩnh của Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm trước kia thấy Nhà Tây Sơn - anh em, chú
bác tranh giành quyền lực với nhau, gây ra giết chóc, họ đã không mong mỏi gì ở
chính nghĩa của triều đại mới nữa mà bỏ theo vào với Phúc Ánh. Nhưng trong cuộc
chiến ở Quy Nhơn này, họ thấy Phúc Ánh cũng chỉ là người muốn lấy lại quyền lực
của cha ông ngày trước mà thôi. Hồi mới đánh chiếm được Quy Nhơn năm 1799, vào
tháng 7 sau khi đã tổ chức thu thuế điền ở đây, Nguyễn vương còn có ý thu luôn
thuế thân, là suất thuế mà trước rồi Tây Sơn đã tha cho dân binh Quy Nhơn. Tham
mưu Trung dinh Đặng Đức Siêu dâng mật sớ ngăn cản, không nên thu để gây ơn.(16) Phúc Ánh nghe theo, nhưng chỉ 3 tháng
sau là ban lệnh thu thuế thân cả 2 phủ Quy Nhơn, Phú Yên.
Đặng
Đức Siêu cũng là tác giả của bài Văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu nổi tiếng,
Siêu là người Quy Nhơn thì lẽ nào binh tướng người Quy Nhơn không biết chuyện.
Vắt kiệt sức dân, nói một đằng làm một nẻo, cai trị bằng sự trí trá dễ dẫn đến
sự thất vọng trong lòng những kẻ từng khuấy nước chọc trời mới theo về. Bên cạnh
đó binh tướng Nam Hà thường ra mặt khinh khi kẻ về hàng, quân Ngự lâm sớm đầu tối
đánh cũng là chuyện hiển nhiên.
Trong
cuộc chiến với nhà Tây Sơn, Nguyễn vương Phúc Ánh gặp nhiều cơ may đến với
mình. Nhưng cũng phải thừa nhận là Phúc Ánh
cùng Nam binh đã có những kỷ năng vốn có để tạo được quyền lực cho mình. Nguyễn vương thành lập Ngũ
Đồn Quân Ngự Lâm toàn người Quy Nhơn là mong được sử dụng lòng quả cảm, chí
phục hận của họ. Tướng lĩnh của Quân Ngự Lâm hầu hết cũng là những người bỏ Nhà
Tây Sơn theo về Gia Định, có người đã từng được trui rèn trong Quân Thần Sách,
đội binh tinh nhuệ của Nguyễn vương. Có lẽ Nguyễn Ánh mong muốn trong quân thứ
của mình, 5 đồn Quân Ngự Lâm sẽ trở thành quân hiệu ưu tú như 5 đồn Quân Thần
Sách đã có. Sự thực đã không như mong muốn. Tháng 5 năm 1802, khi Nguyễn vương
cho đổi Tả đồn của Lê Chất thành dinh Hậu quân, thay thế cho dinh Hậu quân của
Võ Tánh đã tan nát, xem như năm tháng nầy là thời điểm kết thúc quân hiệu Ngũ Đồn
Quân Ngự Lâm.
Sự
thực lịch sử cũng đã ghi nhận là Nguyễn Phúc Ánh xuất phát từ Gia Định đi ra tới
Thăng Long, lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu là Gia Long. Chuyện được hay mất của
Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm chỉ còn là chuyện thắng thua của những người vì bên nầy,
bên kia, chuyện ai vì chủ ấy, nó chỉ được mổ xẻ trên bàn của những ai quan tâm
đến kỷ thuật, nghệ thuật tranh giành quyền lực, định bá đồ vương. Cuộc chiến
1771 - 1802 đã gây không biết bao ly tán trong lòng người, can qua đã đem bi
thương, rẽ phân đến với những người cùng chung một quân thứ, đôi khi với người
cùng trong một mái nhà. ◙
Phụ
chú:
Theo
Quốc sử quán triều Nguyễn thì các tướng lĩnh trông coi các Chi của Ngũ Đồn
quân Ngự lâm lúc bấy giờ cụ thể như sau:
1)
Trung Đồn
Đô đốc Thái Văn Duật làm Trưởng chi Trung Chi,
Tham đốc Lê Văn Tuy làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Chánh Tiền chi Tiền Quân là Nguyễn Văn
Thiệu làm Trưởng chi Tiền Chi,
Đô đốc Nguyễn Văn Hoa làm Phó trưởng chi,
Chỉ huy Nguyễn Văn Tường làm Trưởng chi Tả Chi,
Đô đốc Võ Văn Tiến làm Phó trưởng chi,
Cai cơ Trần Văn Giáo làm Trưởng chi Hữu Chi,
Đô đốc Nguyễn Công Tùy làm Phó trưởng chi,
Chưởng cơ Nguyễn Văn Tứ làm Trưởng chi Hậu Chi,
Đô đốc Trần Văn Nhị làm Phó trưởng chi.
2)
Tiền Đồn
Đô đốc Đỗ Văn Trung làm Trưởng chi Trung Chi,
Đô ty Đỗ Văn Hậu làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Nguyễn Văn Cầu làm Trưởng chi Tiền Chi,
Đô úy Nguyễn Văn Đoan làm Phó trưởng chi,
Cai cơ Phó trưởng chi Chi Hùng Võ là Phạm Văn
Hiếu làm Trưởng chi Tả Chi,
Đô ty Ngô Tòng Cù làm Phó trưởng chi,
Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Nguyễn Đồng làm Trưởng
chi Hữu Chi,
Đô úy Đặng Văn Nghĩa làm Phó trưởng chi.
3)
Tả Đồn
Đô úy Giang Cảnh Thực làm Trưởng chi Trung Chi,
Tham đốc Đỗ Văn Pháp làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Võ Đình Duyên làm Trưởng chi Tiền Chi,
Đô úy Ngô Văn Vĩnh làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Ngô Văn Ngữ làm Trưởng chi Tả Chi,
Đô đốc Bùi Văn Bỉnh làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Hồ Văn Thiêm làm Trưởng chi Hữu Chi,
Đô úy Lương Văn Cương làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Ngô Văn Tuấn làm Trưởng chi Hậu Chi,
Đô ty Lương Văn Trạc làm Phó trưởng chi.
4)
Hữu Đồn
Đô ty Lê Văn Thụy làm Trưởng chi Trung Chi
Đô úy Võ Doãn Tư làm Phó trưởng chi,
Cựu Phó vệ Vệ Tiệp Võ của Tiền Quân là Phan
Văn Vân làm Trưởng chi Tiền Chi,
Đô ty Trần Văn Trân làm Phó trưởng chi,
Cai cơ Tiền Quân là Hồ Hữu An làm Trưởng chi Tả Chi,
Đô úy Dương Văn Hiên làm Phó trưởng chi,
Đô úy Đinh Văn Tá làm Trưởng chi Hữu Chi,
Đô ty Đinh Văn Sĩ làm Phó trưởng chi,
Đô úy Nguyễn Văn Lân làm Trưởng chi Hậu Chi,
Quán quân Nguyễn Văn Tá làm Phó trưởng chi,
5)
Hậu Đồn
Đô đốc Võ Văn Sự làm Trưởng chi Trung Chi,
Cai đội Vệ Diệu Võ là Đặng Đức Bính làm Phó trưởng
chi,
Đô đốc Võ Văn Trung làm Trưởng chi Tiền Chi,
Đô úy Huỳnh Văn Luân làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Hà Văn Quảng làm Trưởng chi Tả Chi,
Cai cơ Nguyễn Văn Chinh làm Phó trưởng chi,
Đô đốc Nguyễn Bá Phong làm Trưởng chi Hữu Chi,
Đô úy Lữ Đắc Ngoạn làm Phó trưởng chi,
Khâm sai Thuộc nội Cai đội Vệ Định Võ của Tả Đồn
quân Thần Sách là Lê Tiến Vạn làm Trưởng chi Hậu Chi,
Đô ty Phạm Văn Đơ làm Phó trưởng chi.
Rồi lấy Phó trưởng chi Tiền Chi của Trung Đồn
là Nguyễn Văn Ba (Hoa) làm Chánh trưởng chi,
Cai cơ Nguyễn Mậu Trực làm Phó trưởng chi.
Chú
thích:
(1) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 419
(2) Đại
Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 421
(3) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 424
(4) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 434
(5) Tập san Sử Địa, số 21, Nxb Khai Trí
Sài Gòn 1971, tr 144
(6) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 451
(7) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 460
(8) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 480
(9) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 525
(10) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 472
(11) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 433
(12) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 393
(13) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 423
(14) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 443
(15) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 443
(16) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục
2001 bản pdf, tr 417