Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

PHONG TRÀO TÂY SƠN

 SÁCH LƯỢC CỦA NGUYỄN NHẠC ĐỐI VỚI BẮC HÀ

Lính Đàng Trong năm 1792
(Tranh của William Alexander in trong sách của Barrow)


          Nhà Tây Sơn kể từ lúc Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế ở phủ Quy Nhơn năm 1778, tính đến năm 1802 là năm vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) cùng các tướng lĩnh Tây Sơn bị Nguyễn Ánh xử tử trong lễ hiến phù ở Phú Xuân, một triều đại vỏn vẹn chỉ 25 năm đã để lại cho hậu thế cả niềm tự hào dân tộc, lẫn ngậm ngùi với tuần hoàn của lẽ thịnh suy, hưng phế. Ngay từ lúc khởi nghiệp, Thái Đức Nguyễn Nhạc đã có chủ trương “hòa Bắc đánh Nam”, cũng từ sách lược này mà giữa ông với Quang Trung Nguyễn Huệ không có sự đồng thuận. Năm 1787, Nguyễn Huệ đem binh vào Quy Nhơn đánh anh, khiến hậu thế cho là anh em giành ngôi vị và tranh của cải lấy ở Thăng Long.

          Tiểu thuyết chương hồi Hoàng Việt hưng long chí của Ngô Giáp Đậu (1853-1929), một tác gia dòng Ngô gia văn phái phản ánh sự kiện anh em Tây Sơn thù oán nhau sau khi ra Bắc dứt chúa Trịnh năm 1786:

Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình dẫn tùy tùng về Quy Nhơn. Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh, Huệ từ chối không nộp, muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam, nhưng Nhạc không cho, Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Phe cánh của Nhạc là Đặng Văn Trấn để tham đốc Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định rồi đem quân về cứu viện, nhưng khi đến Phú Yên bị quân Huệ bắt. Nhạc đứng trên thành khóc gọi Huệ, rồi anh em cùng hòa giải, nhưng thực lòng vẫn thù oán nhau”.(1)

          Để có cái nhìn sáng sủa hơn về mối bất hòa của hai anh em nhà Tây Sơn cũng như chủ trương “hòa Bắc đánh Nam” của Nguyễn Nhạc, thử nhìn lại quá trình nhà Tây Sơn dấy nghiệp, dựng lên một triều đại bằng mồ hôi chinh Nam phạt Bắc.

1) Bước khởi nghiệp của Nhà Tây Sơn từ 1771 đến 1778:

          Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn chép Nguyễn Nhạc làm Biện lại ở bến tuần Vân Đồn, tiêu mất tiền thuế nên trốn vào núi làm kẻ cướp. Nhưng đúng ra phải là ba anh em nhà Tây Sơn Nhạc, Huệ, Lữ lên Tây Sơn thượng, tụ nghĩa luyện binh để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy mà John Barrow, một người Anh đã ghi nhận trong tác phẩm A Voyage to CochinChina in the Year 1792 and 1793 (Hành trình đến xứ Đàng Trong năm 1792-1793) xuất bản ở London năm 1806:

Cuộc nổi dậy do ba anh em cầm đầu. Tên của người anh lớn Yin-yac [Nguyễn Nhạc], một thương nhân giàu có đã xúc tiến công việc buôn bán rộng mở với Trung Hoa và Nhật Bản. Người thứ hai là Long-niang [Long Nhương, chức hiệu của Nguyễn Huệ], một tướng lĩnh cao cấp và là nhà chỉ huy vĩ đại. Còn người thứ ba là một tu sĩ [là Nguyễn Lữ]. Một sự kết hợp lợi hại giữa tài lực, sức mạnh quân sự và sức ảnh hưởng tinh thần trong dân chúng”.

Bản tiếng Anh của John Barrow:

This rebellion was headed by three brothers. The eldest, whose name was Yin-yac, was a wealthy merchant who carried on an extensive commerce with China and Japan; the name of the second was Long-niang, a general officer of high rank and great command; and the third was a priest. Such a dangerous combination of wealth, of military power, and of influence over the minds of the people”.(2)

          Quân nổi dậy quy tụ được những hào kiệt bấy lâu vốn chán ngán ngôi chúa Đàng Trong thống trị dưới sự chi phối của quyền thần Trương Phúc Loan. Dưới ngọn cờ của quân nổi dậy có giới thảo khấu lục lâm như Nhưng Huy, Tư Linh, cả bọn khách thương hải tặc như Tập Đình, Lý Tài cũng theo về dưới trướng. Hỗn độn, thu nạp mọi thành phần, nhưng năm 1773 quân nổi dậy đã nhanh chóng đánh chiếm phủ Quy Nhơn, rồi lấn ra Quảng Ngãi, thanh oai đủ để làm các thế lực phải e dè lẫn nể phục.

          Ở Đàng Ngoài, Tháng 5 năm 1774 sau khi bình được Hoàng Văn Chất ở Hưng Hóa và Lê Duy Mật ở Trấn Ninh, được tin Nguyễn Nhạc nổi dậy ở Quy Nhơn, Trịnh Sâm thừa cơ muốn xâm lấn Đàng Trong. Hoàng Ngũ Phúc được cử làm đại tướng nắm 3 vạn quân tiến xuống Nam, phao tin là giúp chúa Nguyễn đánh Tây Sơn. Tháng 10 quân Trịnh vượt qua sông Gianh. Trịnh Sâm thống suất đại binh xuống Nghệ An để làm thanh thế viện trợ cho Hoàng Ngũ Phúc.(3)

          Hoàng Ngũ Phúc truyền hịch kể tội Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy tạo nên loạn lạc. Các tướng Nguyễn Cửu Pháp, Tôn Thất Huống ở Đàng Trong thừa thế bắt Trương Phúc Loan nộp cho Hoàng Ngũ Phúc. Quân Trịnh vẫn đưa binh chiếm lấy Phú Xuân, Chúa Duệ Tông phải chạy vào Quảng Nam. Tháng Giêng năm Ất Mùi 1775 Hoàng Ngũ Phúc lãnh chức Đại Trấn phủ, toàn quyền xứ Thuận Hóa.

          Tháng 2 năm 1775, Hoàng Ngũ Phúc vượt Hải Vân tiến vào Quảng Nam, Nguyễn Nhạc và Tập Đình, Lý Tài cũng trẩy quân từ Quảng Ngãi tiến ra. Chúa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần bỏ mặc Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương ở lại Quảng Nam, xuống thuyền chạy vào Gia Định lánh nạn. Quân Trịnh đánh bại quân Tây Sơn ở Cẩm Sa. Tập Đình chạy trốn về Tàu, Nguyễn Nhạc đón Hoàng tôn Dương lui về Quy Nhơn, rồi sai người ra cầu hòa với quân Trịnh. Hoàng Ngũ Phúc dâng biểu về triều xin cho Nguyễn Nhạc làm Tiền phong Tướng quân, giữ chức “Hiệu trưởng Tây Sơn”.(4)

          Phía mặt Nam, tháng 7 Nguyễn Huệ đại phá binh của Tống Phước Hiệp ở Phú Yên. Tống Phước Hiệp phải lui về giữ Hòn Khói (thuộc Khánh Hòa).(5) Nguyễn Huệ được chúa Trịnh ban chức “Tây Sơn hiệu Tiền phong tướng quân”.

          Tháng 10, Hoàng Ngũ Phúc đóng binh ở Châu Ổ (Quảng Ngãi), gặp dịch bệnh phải lui về Phú Xuân. Nguyễn Nhạc thừa cơ chiếm lấy Quảng Nam.

          Tháng 2 năm 1776 Nguyễn Lữ đem thủy binh vào thẳng Sài Gòn, chúa Duệ Tông chạy về Trấn Biên (Biên Hòa), triệu Tống Phước Hiệp ở Bình Khang (thuộc Khánh Hòa) về cứu giá. Tháng 5 quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn từ Định Tường tiến lên lấy lại được Sài Gòn, Nguyễn Lữ bỏ chạy về Quy Nhơn. Đến tháng 6 thì Tống Phước Hiệp mất, Đỗ Thanh Nhơn rước Duệ Tông xuống Bến Nghé.(6)

          Tháng 10, Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương trốn khỏi Quy Nhơn, vượt biển vào Nam. Lý Tài trước đã hàng Tống Phước Hiệp ở Phú Yên, bấy giờ đóng binh ở Chiêu Thái (Biên Hòa) chống lại quân Đông Sơn, tôn Nguyễn Phúc Dương làm Tân Chính vương, đưa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần làm Thái Thượng vương. Lý Tài được làm Bảo giá Đại tướng quân.(7)

          Tháng 3 năm 1777 Nguyễn Huệ đưa thủy bộ binh vào Nam, Lý Tài bỏ chạy về Định Tường, hoảng loạn giữa đám tàn binh bị quân Đông Sơn giết ở Tam Phụ (Ba Giồng). Tháng 8 quân Tây Sơn đánh tới Vĩnh Long, Tân Chính vương bị hại, Tháng 9 tiến tới Long Xuyên, Thái Thượng vương chết. Nghiệp chúa Đàng Trong bị dứt, chỉ còn Nguyễn Ánh thoát ra được đảo Thổ Châu. Nguyễn Huệ lui về Quy Nhơn, để Tổng đốc Chu, Hổ tướng Hãn, Tư khấu Oai chia giữ các dinh ở Gia Định.(8)

          Tháng Giêng năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Ánh được Đỗ Thanh Nhơn vời về Sài Gòn tôn làm Đại nguyên soái nắm ba quân. Bấy giờ ở phủ Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Thái Đức, lập triều đình, thành Đồ Bàn đã tu sửa xong đặt tên thành Hoàng Đế, sẵn sàng đương đầu với cả Trịnh lẫn Nguyễn.

          Tóm lại, trong giai đoạn khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, mặt phía Bắc chúa Trịnh Sâm từ trước đã ngại đưa binh sâu xuống Nam, thủy thổ không hạp với lính Bắc hà, hồi 1775 quân Trịnh đã lấn tới Quảng Ngãi nhưng rồi phải lui về Phú Xuân. Năm 1777 chúa Trịnh đành bổ dụng Nguyễn Nhạc giữ chức “Trấn thủ Tuyên úy Đại sứ”, được quyền trưng dụng phú thuế xứ Quảng. Phú thuế, lương thảo là thành tố cốt lõi để củng cố, phát triển thế lực. Sách lược “lấy của người giàu chia cho người nghèo” giai đoạn khởi nghiệp, Tây Sơn không đủ để nuôi dưỡng phong trào lớn mạnh, hồi năm 1776 Nguyễn Lữ khi chạy về Quy Nhơn cũng phải chở theo hơn 200 thuyền thóc của kho Gia Định. Vựa lúa Gia Định thừa mứa nuôi quân của Nguyễn Ánh, sau nầy dù tan tác thất trận phải trốn chạy khắp nơi, nhưng Nguyễn Ánh nhờ đó vẫn kiên trì đứng dậy.

          Ở phía mặt Nam, binh lực lẫn tiềm lực chiến tranh của Tây Sơn trong lúc này vẫn chưa đủ để vẫy vùng thỏa mãn. Quân binh của Nguyễn Huệ từng vào tới Gia Định dứt được nghiệp chúa của Duệ Tông, nhưng từ Phú Yên đến Bình Thuận vẫn còn quân của Châu Văn Tiếp, Trần Văn Thức nhận lệnh của Duệ Tông chiếm đóng.

2) Nhà Tây Sơn giai đoạn 1778 – 1787

          Năm 1778 Thái Đức Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế. Năm 1780, ở trong Nam nhờ Đỗ Thanh Nhân giúp rập tôn phù nên Nguyễn Ánh cũng lên ngôi vương. Đất Gia Định được chia làm 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ, lại đặt thêm dinh Trường Đồn (là Định Tường), mỗi dinh đặt các chức Luu thủ, Cai bạ, Ký lục. Nhưng tại Trà Vinh có Thổ tù Chân Lạp là Suất đứng lên chống lại chính quyền, Đỗ Thanh Nhân cùng Dương Công Trừng ra sức tảo thanh mới bắt được Ốc nha Suất. Đỗ Thanh Nhân có công tôn phù, nhiều công lao hãn mã chiến trận, nhưng tháng ba năm 1781 lại bị Nguyễn vương Phúc Ánh mưu hại. Từ đó Nguyễn Ánh phải vất vả đối phó cuộc Nam chinh do đích thân Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ chỉ huy.

          Tháng 3 năm 1782, thuyền Tây Sơn vào cửa Cần Giờ, thủy binh Gia Định rút lui, viên Cai cơ người Pháp là Mạn Hòe (Emmanuel) điều khiển chiếc tàu bọc đồng ra sức chống cự, nhưng tàu bị đốt cháy, Emmanuel tử trận. Bến Nghé lọt về tay nhà Tây Sơn. Phúc Ánh chạy xuống Tam Phụ (thuộc Định Tường), quân của Tôn Thất Dụ từ Bình Thuận vào cứu giá, thắng được trận ở cầu Tham Lương nhưng bị đuổi đánh tới tận Rạch Giá. Nguyễn vương chạy ra đảo Phú Quốc. Đến tháng 5, Thái Đức Nguyễn Nhạc cùng Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ về Quy Nhơn, cho hàng tướng Đỗ Nhàn Trập cùng Hộ bộ Bá lãnh 3.000 binh đóng giữ Bến Nghé.(9)

          Tháng 8 năm 1782, Châu Văn Tiếp dựng cờ Lương sơn tá quốc từ Phú Yên đem binh vào giúp Nguyễn vương, Đỗ Nhàn Trập cùng Hộ bộ Bá chạy về Quy Nhơn. Châu Văn Tiếp rước Nguyễn Vương về Sài Côn. Tháng hai năm 1783 thuyền của Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Gia Định, quân của Nguyễn vương thua to, Tôn Thất Mân chết, Dương Công Trừng bị bắt, Châu Văn Tiếp tháo chạy, quân binh Chân Lạp của Nguyễn Huỳnh Đức đến ứng cứu cũng bị đánh tan tác. Nguyễn vương đào thoát ra Phú Quốc, suýt bị quân Tây Sơn bắt được nếu không có Cai cơ Lê Phước Điển mặc hoàng bào liều mình thế mạng.

          Tháng 7 năm 1783 Nguyễn vương Phúc Ánh ủy thác Hoàng tử Cảnh mới 4 tuổi cho Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) mang sang Pháp để làm con tin xin đem quân sang giúp.(10) Bá Đa Lộc đi rồi, Phúc Ánh cũng tìm đường sang Xiêm (Thái Lan) cầu viện. Thấy binh lực của Nguyễn vương đã kiệt quệ, tháng 8 năm 1783, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ rút về Quy Nhơn, để Phò mã Trương Văn Đa cùng Chưởng tiền Bảo ở lại giữ Gia Định.

          Tháng 6 năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm về, vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương mang 2 vạn thủy quân và 300 chiến thuyền theo giúp, Châu Văn Tiếp được phong Bình Tây Đại đô đốc.(11) Tháng 10 Châu Văn Tiếp tiến đánh Chưởng tiền Bảo ở sông Mân Thít (thuộc Vĩnh Long), Châu Văn Tiếp bị quân Tây Sơn giết, nhưng trong chiến trận hỗn loạn Chưởng tiền Bảo cũng tử thương.

          Tháng Chạp, Nguyễn Huệ mang binh thuyền vào ứng cứu. Quân Xiêm bị phục binh tại Sầm giang (rạch Gầm) và Miệt giang (kinh Xoài Mút) ở Mỹ Tho, 2 vạn quân chỉ còn vài nghìn lính theo đường núi Chân Lạp chạy về. Nguyễn Vương bị đuổi tới đảo Cổ Cốt (Koh Kood), phải sang Xiêm trốn bước hoạn nạn trú ngụ ở ngoại thành Bangkok. Bọn triều thần tòng vong cũng lục tục đến, được sai đi làm đồn điền để cấp lương thực cho quân binh.(12)

          Ở Gia Định, quân của Nguyễn Vương ráng vùng vẫy chống cự nhà Tây Sơn, nhưng Dương Công Trừng bị Phạm Văn Tham bắt giết. Mặt Nam không còn áp lực, Thái Đức Nguyễn Nhạc hướng quay ra Bắc.

          Tháng Năm năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ được lệnh ra đánh Thuận Hóa. Phạm Ngô Cầu kéo cờ trắng dâng thành, bỏ mặt cha con Phó tướng Hoàng Đình Thể cùng các thuộc tướng quyết chiến chịu chết trên bành voi. Nghe theo bày vẽ của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ bèn giao Thuận Hóa cho Nguyễn Lữ đóng giữ, đoạn thống lĩnh đại quân kéo quân ra Bắc hà. Trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Toại bỏ chạy, thủy binh Tây Sơn đánh vào Thăng Long. Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch bấy giờ chép là quân của Nguyễn Huệ “Thuyền đi như vào chốn không người. Quân đi đến đâu như gió lướt đến đó, không ai dám chống cự”.(13)

          Quân Tây Sơn tiến đến huyện Thanh Trì, Quản cơ Ngô Cảnh Hoàn chặn ở bến Thúy Ái, nhưng ba cha con đều tử trận, binh của đại tướng Hoàng Phùng Cơ cũng tan tác. Chúa Trịnh Khải trốn chạy về Sơn Tây, sau bị bắt nạp nhưng giữa đường Chúa tìm cách tự vẫn. Ngày 26 tháng Sáu năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long. Tháng bảy vua Lê Hiển Tông phong Nguyễn Huệ làm Đại nguyên soái Phụ quốc chính và gả công chúa Ngọc Hân cho. Ngày 17 tháng sau vua mất, Hoàng thái tôn Duy Kỳ nối ngôi, đặt năm sau là năm Chiêu Thống thứ nhất.

          Được tin Nguyễn Huệ tự quyền đánh Bắc hà, Nguyễn Nhạc vội vã viết thư ngăn lại. Nhưng thư đi chưa đến nơi thì binh của Nguyễn Huệ đã ra Bắc rồi. Thái Đức Nguyễn Nhạc vội mang 500 lính thị vệ đến Phú Xuân, lấy thêm 2000 quân nữa rồi cũng hối hả ra Bắc.(14)

          Hoàng Lê nhất thống chí mô tả đoàn quân của vua Tây Sơn hấp tấp đến kinh sư, mặt mũi hốc hác, tiều tụy. Điều này khiến thiên hạ bất ngờ, đồn đại lung tung, không rõ vua Tây Sơn ra Bắc để làm gì. Thái Đức Nguyễn Nhạc bất ngờ đến, mà cũng bất ngờ rời Thăng Long. Trong Nhật ký của Hội Truyền giáo ở phía Bắc (là Bắc kỳ) lưu trữ tại Nha Văn khố Paris, giáo sĩ Le Roy ở địa phận Nam Định gửi thư cho Giám mục La Bartelte ngày 6.10.1786 đã ghi nhận:

Người đó chính là Nhạc, ông chỉ lưu tại Kẻ Chợ có 2, 3 ngày, rồi ông lại hấp tấp trở về qua xứ Nghệ và Bố Chính, tất cả đội ngũ Nam kỳ về theo ông kẻ theo đường bể, người đường bộ. Không ai ngờ tới chuyện này cả…”.(15)

          Tháng 8 năm 1786, Nguyễn Nhạc về đến Quy Nhơn, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương đóng ở Thuận Hóa, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định vương giữ mặt Nam.(16)

          Sau khi Nguyễn Huệ nhận vương hiệu Bắc Bình vương, tháng 10 năm 1787 mối bất hòa, hục hặc giữa hai anh em nhà Tây Sơn xảy ra. Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch chép:

Nguyễn Huệ tự phụ là người hùng tài, thế lực đã ngang nhau, rút Nguyễn Đĩnh về Thuận Hóa. Vì cớ tranh giành tiền của dẫn quân đánh anh là Nguyễn Nhạc, vây thành Quy Nhơn. Nhạc đóng cửa thành chống giữ. Huệ đánh thành suốt ngày đêm, vài ngày không hạ được, bèn giảng hòa, giải vây rút quân về, cho đóng đồn giữ Quảng Nam làm ranh giới”.(17)

          Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng chép:

Nguyễn Văn Nhạc nghe tin Huệ đã diệt Trịnh rồi, ngờ là phản mình, bèn dẫn quân đi gấp đường theo ra, cướp hết của cải châu báu rồi đem nhau cùng về. Bắc Hà rối loạn, không ai là không nghiến răng với Chỉnh. Trận này anh em Tây Sơn tranh nhau vì tài và sắc, bởi thế sinh ra ác cảm với nhau.(18)

          Quốc sử quán triều Nguyễn phán như vậy, theo đó mà hậu thế có cái nhìn lệch lạc về mối bất hòa của anh em nhà Tây Sơn, diễn dịch thành những sự kiện không được sáng sủa.

3) Mối bất hòa giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ

          Để đánh giá đúng đắn sự kiện Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đem quân vào vây thành Quy Nhơn của anh mình, đáng lưu tâm đến Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch. Bùi Dương Lịch (1757-1828) là người đương thời, đỗ Hương cống năm 1774, đỗ Tiến sĩ năm 1787, từng được Nguyễn Huệ mời ra làm việc ở viện Sùng Chính với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp năm 1791. Tác phẩm Lê quý dật sử do ông chấp bút mô tả những chuyện mà chính sử bỏ sót vào cuối triều Lê, hình thức biên niên những sự kiện của sách dễ xem xét mà đánh giá.

          Điều trước tiên mà Lê quý dật sử nhận xét: “Nguyễn Huệ tự phụ là người hùng tài”! Bùi Dương Lịch làm việc cho nhà Tây Sơn, nhưng dưới cây bút nghiêng về Lê triều của Bùi Dương Lịch thì Bắc Bình vương Nguyễn Huệ là người tự phụ, đã phô diễn hết hùng tài đánh đâu thắng đó, thắng những đối thủ những lực lượng lớn hơn mình, tất nhiên dễ sinh ra tâm thế cậy mình là tài giỏi, cho rằng thế lực mình hiện thời đã ngang với ông anh, muốn hùng cứ một phương không lệ thuộc ông anh nữa.

          Điều mà Lê quý dật sử đánh giá: “Vì cớ tranh giành tiền của dẫn quân đánh anh là Nguyễn Nhạc”! Việc anh em Nguyễn Huệ lấy tiền của từ Thăng Long về là có, điều này Đại Nam thực lục đã ghi nhận, Hoàng Lê nhất thống chí cũng chép lời của Hoàng tôn Lê Duy Kỳ than vãn khi hai anh em nhà Tây Sơn rời Thăng Long kéo về Nam vào tháng 8 năm 1786:

Anh em hắn cướp hết của nước ta mà đi, để cái nước rỗng không lại đây cho ta, nếu như có việc nguy cấp thì lấy gì mà chống chế.”.(19)

          Nhưng ở đây xét cớ vì tranh giành tiền của mà dẫn quân đánh anh như thế nào! Lý nào Thái Đức Nguyễn Nhạc hối hả ra Thăng Long để tranh với Nguyễn Huệ giành kho Thăng Long của đất Bắc hà! Lý nào Nguyễn Nhạc bất ngờ hấp tấp ra Thăng Long rồi cũng bất ngờ hối hả rời đi chỉ là vì nghi ngờ Nguyễn Huệ phản lại mình và cướp châu báu như Đại Nam thực lục đã phán hay sao!

          Nếu xét toàn cục thì Thái Đức Nguyễn Nhạc vội ra Thăng Long là để lôi em về. Đánh lấy Thuận Hóa là điều phải làm, nhưng đánh tới Thăng Long là phạm chủ trương “hòa Bắc đánh Nam” mà Nguyễn Nhạc đã vạch ra từ lúc khởi nghiệp. Không chỉ những sự kiện lịch sử xảy ra đã minh chứng chủ trương này, Thái Đức còn thốt ra bằng lời mà người nước ngoài ghi nhận được vào năm 1778.

          Năm 1778 có sứ đoàn người Anh đến Quy Nhơn để tìm kiếm mối giao thương. Sứ đoàn được Nguyễn Nhạc cho diện kiến ở thành Hoàng đế ngày 25.7.1778. Sau khi hai bên đã thỏa thuận về thuế các tàu cập cảng Quy Nhơn, Trưởng sứ đoàn Charles Chapman được Nguyễn Nhạc mời tiếp chuyện riêng ở tư dinh hậu cung. Charles Chapman tường thuật cuộc gặp gỡ này cho toàn quyền Anh ở Belgan. Sử gia Alastair Lamb (1930-2023) đã chép lại tường thuật của Chapman trong tác phẩm British missions to CochinChina 1778-1822 (Sứ mệnh của người Anh ở Đàng Trong từ năm 1778 đến 1882), in tại Kuala Lumpur 1961. Thái Đức Nguyễn Nhạc có thố lộ với Charles Chapman dự tính của mình:

Đức vua cởi mở tiết lộ những dự định trong tương lai với tôi. Ý đồ không ít hơn là làm cho vương quốc Cao Miên phải phục tùng, chinh phục toàn bộ bán đảo xa tận phía Xiêm La, và thu hồi những vùng phía Bắc thuộc xứ Ðàng Trong giờ đang ở trong tay của người Ðàng Ngoài.

Bản tường thuật tiếng Anh của Charles Chapman:

He was then pleased to disclose some of his future designs to me. They were no less than to subdue the Kingdom of Cambodia with the whole peninsula as far as Siam, and the Provinces belonging to CochinChina to the north now in the hands of the Tonquinese”.(20)

          Tại thành Hoàng đế năm 1778, phác thảo tương lai của Thái Đức Nguyễn Nhạc vạch ra gói gọn với 3 điểm chính:

1. Buộc vương quốc Chân Lạp phải phục tùng

2. Phải chinh phục bán đảo Xiêm La

3. Chỉ thu hồi đất đai của Đàng Trong đang bị quân Trịnh chiếm đóng

          Để thực hiện mưu đồ trên, Nguyễn Nhạc mong muốn có được sự hổ trợ của tàu sắt Anh quốc. Ông đã liệt kê những thổ sản mà Đàng Trong có được như hồ tiêu, các loại đậu, quế chi, kỳ nam, ngà voi, thiếc, và nhiều thứ khác nhưng vì thiếu hiểu biết cư dân đã không khai thác được hết. Bởi lẽ đó, cũng như cần cho việc huấn luyện dân binh về kỷ năng chiến đấu, ông đề nghị Toàn quyền Anh ở Bengal giúp gởi cho ông những cố vấn có năng lực chuyên môn. Bù lại, ông sẽ nhượng cho người Anh vùng đất tương thích để lập thương điếm.

          Thương thảo giữa Thái Đức Nguyễn Nhạc và sứ đoàn người Anh năm 1778 không được thực hiện. Charles Chapman đến Quy Nhơn mà trên tàu của ông có mang theo một cựu thần chúa Nguyễn đã lạc đến Bengal nhờ người Tây dương giúp đỡ. Chapman rời Quy Nhơn ra Quảng Nam, rồi đến Huế gặp Trấn thủ Phạm Ngô Cầu và Phó tướng Hoàng Đình Thể. Sau đó ông về Bengal trong tình thế gần như bị bắt buộc sau khi quân Trịnh muốn chiếm giữ con tàu của ông, hai bên đã đọ súng với nhau. Người Anh tạm bỏ ý đồ gầy dựng thế lực ở xứ Đàng Trong, địa thế thuận lợi của nơi này lọt vào tay người Pháp.

          Sách lược của Thái Đức Nguyễn Nhạc không phải là không hợp thời thế lúc bấy giờ. Người Đàng Trong cần sự hổ trợ của văn minh cơ khí phương Tây, người Tây dương đang tranh nhau mở rộng thế lực, họ đang tìm mọi cách đặt thương điếm ở Á Đông để dắt mối dây tạo nên ảnh hưởng nơi đây. Người Mãn Thanh bấy giờ sau khi chiếm đất nước Trung Hoa, hiện là lúc thịnh trị của họ, cần phải để yên vua Lê chúa Trịnh để làm vùng độn phía Bắc mà toàn tâm dồn hết nhân tài vật lực cho mưu đồ phía Nam.

          Qua vậy, mối bất hòa giữa Thái Đức Nguyễn Nhạc và Bắc Bình vương Nguyễn Huệ khởi nguồn từ sách lược ban đầu mà Thái Đức đã vạch ra. Đồ rằng sự việc nảy ra hục hặc chỉ xoay quanh chuyện nên phân bố nhân tài vật lực cho mục tiêu phía Bắc hay phía Nam. Cũng từ điều này mà Quốc sử quán triều Nguyễn diễn dịch rằng hai anh em nhà Tây Sơn đánh nhau chỉ vì giành của cải lấy được ở Thăng Long, còn tô đậm thêm: “tranh nhau vì tài và sắc, bởi thế sinh ra ác cảm với nhau”.

          Với mục tiêu phía Bắc, chiến thắng mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1789 trước giặc Mãn đã làm lân bang phải kiêng dè, nể phục, thiên tài quân sự Nguyễn Huệ danh vang bốn biển, lịch sử ghi nhận chiến công giữ nước của nhà Tây Sơn. Nhưng bao nhiêu đấy không ngăn được ý chí khôi phục nghiệp chúa Đàng Trong của Nguyễn vương Phúc Ánh. Trong nhật ký của Hội Truyền giáo ở phía Bắc, các giáo sĩ phương Tây có ghi nhận sự kiện sau lúc Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Vũ Văn Nhậm năm 1788, phải vội về liền Thuận Hóa “với những binh lính mới mộ được tại Bắc kỳ” để chuẩn bị cho việc Nam tiến, vì lo ngại đối thủ ở phía Nam gượng dậy phục quốc:

Tuy Bắc vương ra Bắc để lật đổ loạn đảng Tiết chế và để giữ chắc công cuộc cai trị vương quốc được phó thác cho ông, nhưng ông sợ vị thái tử hợp pháp của Nam kỳ [Nguyễn Ánh] trở về và xâm chiếm bất thình lình. Ông phải lập tức lên đường vào Nam với những binh lính mới mộ được tại Bắc kỳ”.(21)

          Khi Nguyễn Huệ ra Bắc hà dập tắt phủ chúa Đàng Ngoài họ Trịnh, mục tiêu phía Bắc cũng được chọn nên nhân tài vật lực của nhà Tây Sơn phải căng mình cả 2 mặt trận. Phía Bắc vua Lê hết dùng Nguyễn Hữu Chỉnh quấy phá đòi Nghệ An, rồi tìm sự dựa dẫm vào triều đình Mãn Thanh. Bắc Bình vương lo ổn định Bắc hà, lo đối phó với giặc Mãn nên không còn rảnh để dòm ngó phía Nam. Phía Nam Nguyễn Lữ đã bỏ về Quy Nhơn, Nguyễn vương Phúc Ánh kịp thời phục hồi lực lượng, về Gia Định tổ chức lại dinh trấn. Đầu năm 1789, người đứng đầu quân Tây Sơn ở Gia Định là Thái bảo Phạm Văn Tham vì thế binh cô độc nên đã hàng Nguyễn vương. Tháng 6 Bá Đa Lộc cùng Hoàng tử Cảnh từ Pháp về nước, có Jean Baptiste Chaigneau và Philippe Vannier thuận tình theo làm tôi tớ Nguyễn vương. Nguyễn vương ban chức và tên Việt cho Chaigneau là Cai đội Nguyễn Văn Thắng, cho Vannier là Cai đội Nguyễn Văn Chấn. Được người Tây dương giúp, Nguyễn vương Phúc Ánh tổ chức lại quân binh, năm 1790 tiến ra Phan Rí. Phạm Văn Tham mưu liên lạc với Nguyễn Huệ, bị phát hiện nên bị giết, từ đây phía Nam là mối lo chính của nhà Tây Sơn.

          Tựu chung, nói gọn lại sách lược hòa Bắc đánh Namlúc khởi nghiệp của Thái Đức Nguyễn Nhạc là chủ trương đúng đắn của một lực lượng nhỏ bé bị chung quanh gọi là kẻ cướp. Nhà Tây Sơn đứng lên đã dứt nghiệp chúa Đàng Trong, dập vùi 2 vạn quân Xiêm dưới rạch Gầm và kinh Xoài Mút. Khi ra Bắc hà xóa phủ chúa Đàng Ngoài, rồi đánh tan 20 vạn quân Thanh, sách lược “hòa Bắc đánh Nam” không còn tồn tại, nội bộ anh em xảy ra lục đục, viễn ảnh buộc Chân Lạp phải phục tùng, chinh phục bán đảo Xiêm La mỏng manh như mây khói, tiềm lực chiến tranh xứ Đàng Ngoài không giúp cho nhà Tây Sơn đủ sức đương cự Nguyễn vương Phúc Ánh đang trổi dậy ở phía Nam, nhà Tây Sơn bước lần đến chỗ suy vong. ◙

 

Phan Trường Nghị

(1) Hoàng Việt hưng long chí, Nxb Văn học 1993, bản pdf, tr 65

(2) A Voyage to Cochichina in the year 1792-1793

      University of Pittsburgh 1806, tr 250

(3) Khâm định VS thông giám cương mục, Nxb Giáo dục 1998, tr 930

(4) Khâm định VS thông giám cương mục, Nxb Giáo dục 1998, tr 937

(5) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 197

(6) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 199

(7) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 201

(8) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 220

(9) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 228

 (10) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 234

 (11) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 237

 (12) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 240

 (13) Lê quý dật sử, Nxb Khoa học xã hội 2001, tr 62

 (14) Hoàng Lê nhất thống chí , Nxb Văn học 2006, tr 132

 (15) Tập san Sử Địa, số 9-10 , Nxb Khai Trí 1968, tr 230

 (16) Lê quý dật sử, Nxb Khoa học xã hội 1987, tr 72

 (17) Lê quý dật sử, Nxb Khoa học xã hội 1987, tr 78

 (18) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 242

 (19) Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học 2006, tr 143

 (20) British To CochinChina 1778-1822, Kuala Lumpur 1961, tr 43

 (21) Tập san Sử Địa, số 9-10, Nxb Khai Trí 1968, tr 206

 



Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

LẠI DƯƠNG GIANG Ở BÌNH ĐỊNH

THEO QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN

Sông Lại Dương trong bản đồ thời Đồng Khánh

1) Đại Nam nhất thống chí bản thảo năm 1882:

            Bản dịch viện Sử học, Nxb Thuận Hóa 2006 chép: (1)

+  Sông Lại Dương ở phía Nam lỵ sở phủ Hoài Nhơn, rộng 83 trượng, sông sâu nước trong, có hai nguồn:

Một nguồn từ núi sách Man thuộc nguồn Trà Bình về phía Tây Bắc huyện Bồng Sơn, chảy về phía Nam qua thủ sở bến Đốc Chính, đến thôn Thanh Lương, chuyển sang phía Đông đến bến Trường Tân (tục gọi bến Đồng Dài, rộng hơn 20 trượng), ở đây có đồn thủ Trường Tân có khe núi từ phía Tây Nam chảy vào, lại chảy về phía Đông đến bến thôn Phú Văn.

Một nguồn từ khe núi trong sách Man về phía Tây Nam huyện, chảy qua thôn Hội Đăng, các núi Tổng Vinh, Lỗ Đố và đồn thủ Đình Chí cũ, đến thôn Nhơn Sơn. Đến đây có ngòi Hạ Lý, Húc Tắc ở thôn Nghĩa Điền – phía Nam ven núi chảy vào (tục gọi Nước Hợp), lại chảy đến thôn Hương Sơn, ở đây có đồn thủ Thượng Lý, Ô Kim thuộc thôn Nghĩa Điền, nước khe núi chảy qua thôn Bình Sơn, cùng nước Kim Sơn, Phú Hữu chảy từ phía Đông hợp vào. Lại chảy qua bến Đồng Khố thuộc thôn Hội Tỉnh, đến thôn Tân Thạnh thì có nước khe núi Man Lăng (giáp địa giới huyện Phù Mỹ) chảy vào. Lại chảy qua bến Mộc Bài, rồi ngoặt về phía Đông qua thôn Trung Lương, đến thôn Phú Văn, lại chảy về phía Đông qua bến Lại Dương thuộc thôn Trung An thì chia thành hai nhánh. Nhánh chảy về Đông Bắc 10 dặm qua địa phận thôn An Thái, lại chảy 6 dặm đến bến Tân Quan làm sông Tân Quan, lại chảy 9 dặm rồi đổ vào cửa biển Kim Bồng. Nhánh chảy về Đông qua bến Lại Dương làm sông Lại Dương rồi đổ vào cửa biển An Dũ.

Năm Tự Đức thứ 3, liệt vào hàng sông lớn, chép trong điển thờ.

Xét : Sông Tân Quan từ thôn An Thái (trước là An Quang) trở xuống, nay bồi đắp thành ruộng, chỉ còn đường cũ phỏng một trượng, nước sâu chừng một thước mà thôi, từ chợ Lộ Ân trở xuống hơi sâu hơn.

2) Đại Nam nhất thống chí bản khắc in năm 1910:

Nguyên ngữ Quyển 9 trang 20:

賴陽江在蓬山縣南, 江廣八十三丈,有竒水深而清,舊有浮橋今廢.發源三:

一派從壯水屯, 東北流十三里至金山江,

一派從停誌屯, 南流二十一里,合金山江.又東北流四十四里,合忠良江;

一派從茶平源,長津南流九十一里,至忠良江合襟,轉而東三里許,爲賴陽江,東流二十四里,注于安裕海口.

祠德三年表爲大江 列在祀典.

Lại Dương giang trong Nhất thống chí năm 1910

Phiên âm:

            Lại Dương giang tại Bồng Sơn huyện Nam, giang quảng bát thập tam trượng, hữu kỳ thủy thâm nhi thanh, cựu hữu phù kiều kim phế. Phát nguyên tam:

+  Nhất phái tòng Trang thủy đồn, Đông Bắc lưu thập tam lý chí Kim Sơn giang;

+  Nhất phái tòng Đình Chí đồn, Nam lưu nhị thập nhất lý, hợp Kim Sơn giang. Hựu Đông Bắc lưu tứ thập tứ lý, hợp Trung Lương giang;

+  Nhất phái tòng Trà Bình nguyên Trường tân, Nam lưu cửu thập nhất lý, chí Trung Lương giang hợp khâm.

            Chuyển nhi Đông tam lý, hứa vi Lại Dương giang; Đông lưu nhị thập tứ lý, chú vu An Dũ hải khẩu. Tự Đức tam niên biểu vi đại giang liệt tại tự điển.

Tạm dịch:

            Sông Lại Dương ở phía Nam huyện Bồng Sơn, sông rộng 83 trượng có dư, nước sâu mà trong, xưa có cầu nổi, nay đã bỏ. Sông phát nguyên 3 chỗ:

+  Một dòng từ đồn Trang Thủy, chảy ra Đông Bắc 13 dặm đến sông Kim Sơn

+  Một dòng từ đồn Đình Chí, chảy vào Nam 21 dặm hiệp với sông Kim Sơn. Lại chảy qua Đông Bắc 44 dặm hiệp với sông Trung Lương.

+  Một dòng từ bến Trường nguồn Trà Bình, chảy vào Nam 91 dặm đến sông Trung Lương hiệp hết lại.

            Sông chuyển chảy qua Đông 3 dặm, như thế làm sông Lại Dương chảy xuống Đông 24 dặm đổ vào cửa biển An Dũ. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) liệt hàng sông lớn, chép vào điển thờ.

3) Xét:

            Xét bản đồ thời Đồng Khánh thấy:

+  Nhánh từ nguồn Trà Bình tức nhánh Bắc chảy qua thôn Thanh Lương, trước đây là thôn Thanh Lương của xã Ân Tín, Hoài Ân.(2) Rồi chảy theo hướng Đông đến thôn Phú Văn, trước đây thuộc xã Ân Thạnh, Hoài Ân.(3) Nay Ân Tín và Ân Thạnh là xã Vạn Đức tỉnh Gia Lai.

+  Nhánh từ các sách Man (làng người Thượng) tức nhánh Nam có 2 nhánh.

     Nhánh phía phải núi Kim Sơn chảy qua Hội Đăng, Hội Tỉnh trước đây là thôn Liên Hội xã Ân Hữu, huyện Hoài Ân.(4) Qua Nghĩa Điền, Nhơn Sơn (nay là thôn Nghĩa Nhơn) thuộc xã Ân Nghĩa.(5) Ân Hữu nay là xã Ân Tường. Ân Nghĩa nay là xã Kim Sơn, Gia Lai.

     Nhánh phía trái núi Kim Sơn chảy qua Bình Sơn, Kim Sơn cũng thuộc xã Ân Nghĩa,(6) Hương Sơn (nay là Xuân Sơn), trước đây thuộc xã Ân Hữu, Hoài Ân.(7) Có khe từ núi Man Lăng chảy qua Tân Thạnh (nay là Tân Thành, Diêu Tường, trước thuộc xã Ân Tường Đông),(8) chảy qua Phú Hữu (trước thuộc xã Ân Tường Tây, Hoài Ân).(9) Ân Tường Đông, Ân Tường Tây nay là xã Ân Tường, Gia Lai.

     Nhánh Bắc và nhánh Nam hợp tại Phú Văn và Trung Lương (trước thuộc phường Bồng Sơn thị xã Hoài Nhơn).(10) Rồi rồi cùng chảy về Đông qua thôn Trung An (trước cũng thuộc phường Bồng Sơn thị xã Hoài Nhơn).(11) Tại đây sông phân làm 2 nhánh, nhánh chảy tiếp ra Đông 9 dặm đổ vào cửa biển An Dũ, nhánh chảy hướng Đông Bắc 6 dặm qua địa phận thôn An Thái, trước thuộc phường Tam Quan thị xã Hoài Nhơn,(12) làm sông Tân Quan đổ vào cửa Kim Bồng.

     Nhưng xét Sử cục chép: “Sông Tân Quan từ thôn An Thái (trước là An Quang) trở xuống, nay bồi đắp thành ruộng” Lời của Sử cục chép từ năm 1882, bản đồ Đồng Khánh vẽ quãng 1887 thấy từ Trung An đến An Thái đứt quãng, trống trơn. Xét bản đồ ngày nay, từ Trung An phường Bồng Sơn đến An Thái phường Tam Quan, thực trạng còn vết tích nhánh sông Lại nầy, nhưng liệu có đúng như Đại Nam nhất thống chí đã chép không!

Nhánh sông Lại trên bản đồ ngày nay

Phan Trường Nghị

 (1)       Đại Nam nhất thống chí, Tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 36

 (2)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 380

 (3)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 388

 (4)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 416

 (5)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 419&420

 (6)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 419&421

 (7)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 417

 (8)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 404

 (9)      Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 413

(10)    Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 332

(11)     Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 334&335

(12)    Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 270

 

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

SÔNG LA TINH Ở PHÙ MỸ VÀ PHÙ CÁT

CON SÔNG THƯỜNG DỊCH CHUYỂN DÒNG

 sông La Tinh trong Đại Nam nhất thống chí

            Kể từ khi huyện Phù Ly tách chia làm Phù Mỹ và Phù Cát, sông La Tinh lấy làm ranh giới thiên nhiên giữa 2 huyện, nên mỗi khi nó chuyển dòng, có làng ở phía hạ lưu khi thì ở bờ Bắc khi thì ở bờ Nam. Có nghĩa lúc thì thuộc địa phận Phù Mỹ lúc thì thuộc Phù Cát.

            Đại Nam nhất thống chí bản thảo chép tay đời Tự Đức, bản dịch viện Sử học, Nxb Thuận Hóa 2006, Tập III, tr 38 chép:

+  Sông La Tinh ở huyện Phù Cát, sông rộng 16 trượng, nguồn từ phía Đông Nam núi Hội Sơn, qua hai ấp An Long và Hợp Long, lại chảy về phía Đông 35 dặm đến ấp Xuân hội làm sông La Tinh. Đoạn chảy về Đông qua ấp Chánh Hội thì chia thành hai nhánh. Một nhánh chảy về Đông, một nhánh chảy về Tây hơn 10 dặm, đến đầm Nước Ngọt thì hợp nhau mà đổ vào cửa biển Đề Di

            Khi dâng lên Tự Đức xin khắc in năm 1882, vua chưa hài lòng, truyền Quốc sử quán chỉnh sửa lại. Đến đời Duy Tân, bản khắc in năm 1910 có thể hiện sự chỉnh sửa của sử cục, nhưng về sông La Tinh ở Bình Định không thấy chỉnh sửa nhiều, chỉ bổ sung nơi phát nguyên:

羅晶江 在符吉符美二縣界, 廣十六丈.

源出石盤山, 東南經安隆, 合隆二邑. 政會村分爲二派, 南北十餘里至淡水潭合襟注于禔夷海口.

(Sông La Tinh tại Phù Cát Phù Mỹ nhị huyện giới, giang quảng thập lục trượng. Nguyên xuất Thạch Bàn sơn, Đông Nam kinh An Long, Hiệp Long nhị ấp. Hựu Đông lưu kinh Chánh Hội thôn phận vi nhị phái, Nam Bắc thập dư lý, chí Đạm Thủy đàm hợp khâm chú vu Đề Di hải khẩu).

+  Sông La Tinh ở giữa ranh giới 2 huyện Phù Mỹ, Phù Cát, sông rộng 16 trượng.

     Phát nguyên từ núi Thạch Bàn, chảy xuống Đông Nam, qua hai ấp An Long và Hiệp Long. Lại chảy về Đông qua thôn Chánh Hội thì chia làm hai nhánh. Nhánh Bắc nhánh Nam đều chảy hơn 10 dặm đến đầm Đạm Thủy, hiệp lại rồi đổ vào cửa biển Đề Di.

sông La Tinh trong bản đồ thời Đồng Khánh

An Long (安隆) và Hiệp Long (合隆)  thời Minh Mạng thuộc tổng Trung Định huyện Phù Cát.(1) Thời Đồng Khánh là  thôn An Điềm và Hiệp Long của tổng Thạch Bàn, huyện Phù Cát.(2) Trước đây chúng thuộc xã Cát Lâm huyện Phù Cát – Bình Định, hiện nay chúng thuộc xã Hội Sơn tỉnh Gia Lai.

Còn thôn Chánh Hội (政會村) thời Minh Mạng cũng thuộc tổng Trung Định huyện Phù Cát.(3) Sang thời Đồng Khánh nó thuộc tổng tổng Trung Thành, huyện Phù Mỹ.(4) Cũng vì vậy mà Đại Nam nhất thống chí bản Tự Đức chép về đền thờ Tráng Bang hầu Chu Tá An ở Chánh Hội, khiến hậu thế mơ hồ, theo đó cho rằng nhân vật Chu Tá An thời chúa Phúc Khoát là người Phù Cát!

● Không chỉ thôn Chánh Hội, thôn Cảnh An (景安村) thời Minh Mạng thuộc tổng Trung Bình, huyện Phù Mỹ.(5) Thời Đồng Khánh, Cảnh An thuộc tổng Trung Thành, cũng của huyện Phù Mỹ.(6) Nhưng trước đây thuộc xã Cát Tài huyện Phù Cát, giờ thuộc xã Đề Gi tỉnh Gia Lai.

● Tương tự, thôn Phú Hội (富會村) thời Minh Mạng thuộc tổng Trung Bình, huyện Phù Mỹ,(7) và Phú Thực (富實村) cũng thuộc Trung Bình.(8) Thời Đồng Khánh, Phú Hội và Phú Thực thuộc tổng Trung Thành, (lúc nầy Phú Thực mang tên là Phú Đa 富多) cùng của huyện Phù Mỹ.(9) Nhưng trước đây chúng ghép lại làm thôn Phú Hiệp của xã Cát Tài huyện Phù Cát, giờ thuộc xã Đề Gi tỉnh Gia Lai.

            Sông núi thay đổi làm lòng người cũng đổi thay theo, huống chi là một địa danh hành chánh nhỏ nhoi!

sông La Tinh ngày nay

Phan Trường Nghị

 

(1) Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định, Tập II, Nxb TpHCM 1996, tr 720

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh địa dư chí Bình Định, bản pdf, tr 1555

(3) Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định, Tập II, Nxb TpHCM 1996, tr 719

(4) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh địa dư chí Bình Định, bản pdf, tr 1551

(5) Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định, Tập II, Nxb TpHCM 1996, tr 690

(6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh địa dư chí Bình Định, bản pdf, tr 1552

(7) Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định, Tập II, Nxb TpHCM 1996, tr 701

(8) Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định, Tập II, Nxb TpHCM 1996, tr 703

(9) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh địa dư chí Bình Định, bản pdf, tr 1551&1552


Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

SÔNG VÂN SƠN Ở PHÍA NAM BÌNH ĐỊNH

Sông Vân Sơn
trong Đồng Khánh bản đồ
 

            Sông Vân Sơn còn gọi là sông Hà Thanh, Đại Nam nhất thống chí bản Tự Đức 1882, Nxb Thuận Hóa 2006, Tập III, tr 39 chép:

Sông Vân Sơn ở phía Đông Nam huyện Tuy Phước, phát nguyên từ phía Tây núi Lão Hương, chảy sang phía Đông Nam, qua vực Thạch Trúc, suối Phèn, suối Khúc, và khe Bùn, đến thôn Quang Hiển (光顯村), gọi là sông Quang Hiển (光顯).

     Lại chảy quanh co sang phía Đông qua khe Vọt, khe Đá, khe Xoài và thủ sở Hà Thanh (河清守所), đến thôn Vân Hội (雲會村) trước là thôn Vân Sơn (雲山), gọi là sông Vân Sơn (雲山江).

- thủ sở nguồn Hà Thanh : nay thuộc xã Canh Vinh

- thôn Quang Hiển : nay là thôn Hiển Đông, Chánh Hiển, Tân Quang, Thanh Minh xã Canh Vinh

- thôn Vân Hội : nay là Kp Vân Hội ở Diêu Trì xã Tuy Phước

     Lại chảy về phía Đông 2 dặm thì chia làm 2 nhánh.

     Một nhánh chảy về phía Đông Bắc qua núi Càn Úc (郁山) ở cửa sông Đục, đến thôn thôn Phổ Trạch (普澤村), rồi đổ xuống đầm Biển Cạn (海鶴潭), đấy là chi lưu của sông Vân Sơn.

- núi Càn Úc : nay là núi Trường Úc, gọi tắt là núi Úc

- thôn Phổ Trạch : nay thuộc xã Tuy Phước

- đầm Biển Cạn : nay là đầm Thị Nại

- chi lưu sông Vân Sơn nầy, nay gọi là sông Tọc. Sông từ Vân Hội chảy vòng qua núi Úc, hợp với một nhánh của sông Tân An (sông Côn) chảy xuống Thuận Nghi, Phổ Trạch, qua cầu Hà Thanh 7, chảy qua Quảng Vân, Diêm Vân đổ ra đầm Thị Nại.


Sông Hà Thanh ở Vân Canh chảy ra Quy Nhơn



     Một nhánh chảy về phía Đông Nam qua núi Cấm Phú Xuân, có nước ao Bồ chảy vào, lại chảy về phía Đông đến thôn Phú Hòa Đông (富和東村), gọi là sông Phú Hòa Đông (富和東), cũng đổ xuống đầm Biển Cạn (海鶴潭).

- núi Cấm Phú Xuân : là hòn Chà Rang/Sơn Chà phường Quy Nhơn Bắc

- ao Bồ : giữa Long Vân và Phú Tài, nay gọi là Bàu Cả.

- thôn Phú Hòa Đông : nay là Phú Hòa phường Quy Nhơn Bắc

- sông Phú hòa Đông : nay gọi là sông Ngang. Sông từ Vân Hội chảy qua Long Vân, An Thạnh, chia làm 2 nhánh. Nhánh Nam qua Phú Vinh, Phú Hòa, có hồ Phú Hòa điều tiết nước cùng đổ ra đầm Thị Nại ngả cầu Hà Thanh 1. Nhánh Bắc qua chợ Dinh, Bình Thạnh, Lương Nông đổ ra đầm ngả cầu Hà Thanh 2.

             Sông Hà Thanh là sông nhỏ, ngắn, nhưng lưu vực bốn bề là núi độ dốc cao, nên dễ gây ra lũ. Ngày xưa là vùng chiến trận, khi quân Gia Định theo gió mùa tiến ra đánh Quy Nhơn của nhà Tây Sơn

 

Phan Trường Nghị