Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

CHUYỆN VỤN VẶT BÌNH ĐỊNH

1. TÁNH KHÍ CỦA NGƯỜI BÌNH ĐỊNH NGÀY XƯA


          Tánh Khí hay Tính Khí [性氣] là nết riêng, là lòng dạ của mỗi người. Người xưa đã nói về Tánh Khí của người Bình Định như thế nào? 

 + Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Lê Quang Định thì chép ngắn gọn: “Tính người quả cảm, dũng khí”.(1) 

          Binh bộ Thượng thư triều Gia Long nói về người ở vùng đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn gọn ghẽ, chẳng vẽ Rắn thêm chân như mấy ông quan viết sử sau nầy. 

 + Còn theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn: “Người Bình Định tính tình trầm tĩnh, dũng cảm, thích việc nghĩa. Người học thức phần nhiều nho nhã, trung hậu, người tiểu nhân thì phụ bạc, xảo trá”.(2) 

          Mấy sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn đúng là vẽ Rồng vẽ Rắn! Việc hành xử của người có học, điều trước tiên là phải biết sống đúng phong cách người có học đạo lý của thánh hiền. Ở đâu chẳng vậy! Còn kiểu người xảo trá, phụ bạc ở vùng miền nào mà chẳng có (!?). 

 + Vào triều Nguyễn, thời đã phân định rạch ròi địa giới, địa danh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Bấy giờ có câu ca lưu truyền: 

Quảng Nam hay cãi 

Quảng Ngãi hay co 

 Bình Định hay lo 

Thừa Thiên ních hết 

          Những dị bản của câu ca, có khác chút đôi ba từ ngữ nhưng hầu hết ngữ nghĩa những câu ca đó đều tỏ rõ nhận xét về cái tánh tranh luận phản kháng của người Đàng Trong, bao gồm cả địa phận Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. 

          Tạm hình dung câu ca là nói về tánh tranh luận không thiếu lý lẽ của người Quảng Nam; tánh đôi co của người Quảng Ngãi; tánh lo sợ, an phận không tranh thắng tranh hơn của người của vùng đất nhà Tây Sơn dấy nghiệp; tánh thắng thế dù có tranh hay không cần tranh luận của người Thừa Thiên, đất kinh sư triều Nguyễn. 

          Có luận giải cho rằng người Bình Định hay lo là "lo lót"! Việc lo lót để yên thân, việc lạm dụng quyền thế để vơ vét, ních cho đầy bụng, ở đâu mà chẳng có. Tùy thể chế, tùy triều đại đặt giới hạn mà nơi đó nảy ra có ít hay nhiều, đâu chỉ riêng là người Thừa Thiên mới làm quan, mới ních. Ở đây “ních” không những là nhồi nhét cho đầy, ngữ nghĩa “chật ních” đã hàm ngụ cái ý tràn đầy. Đất kinh sư Thừa Thiên xưa là đất tập trung người đầy quyền thế, đầy kinh luân. 

          Người đất kinh sư với địa vị trong tay (có quyền lực), không cần lý lẽ cũng thắng thế. Người đất kinh sư có lắm người tài hoa, đầy chữ nghĩa trong tranh luận (có học lực), nhưng phổ biến là nơi phồn hoa đô hội với túi tiền trong tay (có tài lực), nén bạc đâm toạc tờ giấy, sức mạnh đồng tiền xé toang cả pháp lý thì cần chi phải tranh luận! Xưa ở Bình Định thường dẫn câu: 

Vai mang bị bạc kè kè 

Nói bậy nói bạ nẫu nghe rầm rầm”. 

          Thói thường ở đời, tài lực luôn dẫn đầu, chi phối cả học lực và quyền lực. Người đất kinh sư Thừa Thiên đã ních, nhét hết vô túi những lợi thế có trong cuộc sống. 

          Với câu ca ở trên kia, nó mô tả được một phần nào Tánh Khí của người Bình Định xưa trong khoảng thời gian e dè triều đại mới, triều đại luôn dè chừng người của vùng đất dấy nghĩa của nhà Tây Sơn. Với mô tả của người xưa, thử khảo xem nó được hình thành từ đâu? 

CƯ DÂN BAN ĐẦU Ở BÌNH ĐỊNH LÀ NHỮNG AI 

          Kể từ khi Lê Thánh Tông Nam chinh, thành Đồ Bàn thuộc về Đại Việt năm 1471, ở đây ngoài lính Việt lưu lại trấn giữ biên cương theo chính sách “ngụ binh ư nông”, còn có thêm tội phạm các nơi bị lưu đày, đưa đến đây sung vào lính. 

         Mùa hạ, tháng 4, ngày 22 niên hiệu Hồng Đức thứ 5 (năm 1474), vua Lê Thánh Tông có sắc chỉ cho tù nhân bị lưu đày sung làm lính ở các quân vệ

 + “Tù nhân bị tội lưu, ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa (Quảng Nam), ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), ở châu xa thì sung làm quân vệ Hoài Nhân (Bình Định), những kẻ được tha tội chết cũng sung làm quân vệ Hoài Nhân”.(3) 

          Tiếp theo chân lính và tù nhân, bước mở đất của người Việt đầu tiên đến Bình Định hầu chắc chỉ là người Thuận Quảng, vì Bình Định bấy giờ là phủ Hoài Nhơn, một trong 3 phủ của Thừa tuyên Quảng Nam. 

          Rồi cộng đồng người Chiêm ở lại cộng cư với người Việt có lẽ không phải ít, các mối hôn nhân giữa người Việt với người Chiêm cũng chắc xảy ra không ít. Sử Ký toàn thư chép vào ngày 9 tháng Tám năm Cảnh Thống thứ 2 (năm 1499), vua Lê Hiến Tôn có ra chiếu dụ: 

+ “Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu”.(4) 

          Lệnh trên phải tuân, nhưng hẳn nhiên với địa đầu đất nước luôn phải đối phó chuyện binh đao, việc quản lãnh cương thổ còn lỏng lẻo, Hồng Đức bản đồ còn vẽ sai vị trí huyện Tuy Viễn thì làm sao ngăn cấm triệt để dân Việt ở đây, bấy giờ hầu hết là lính xa nhà, là tội phạm trọng án. Sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết vào thời nhà Mạc năm 1555 để lại cho thấy: 

 + “Ở Điện Bàn đàn bà mặc áo Chiêm (5) 

 + “Người La Giang nói tiếng Chiêm (6) 

          Vùng Thuận Quảng thuộc Đại Việt đã lâu, vậy mà Điện Bàn (nay thuộc tp.Đà Nẵng) và La Giang (nay thuộc Vĩnh Linh), nơi đây vẫn đầy dấu tích Champa trong cuộc sống, thì huống chi là ở đất Bình Định mới sáp nhập vào Đại Việt. 

          Đến thời chiến tranh Trịnh Nguyễn, cư dân Bình Định được bổ sung thêm người Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh bấy giờ còn thuộc Nghệ An), trong cuộc chiến 1655 – 1660 quân Nguyễn chiếm 7 huyện ở Nghệ An là Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, với Nam Đàn.(7) Lúc lui về Nam, chúa Nguyễn Phúc Tần cho dân binh Nghệ An theo về, đưa lên khẩn đất ở thôn Tây Sơn, trong số đó có Tằng Tổ của ba anh em nhà Tây Sơn Nhạc Huệ Lữ. Thôn Tây Sơn bây giờ là vùng Tiên Thuận của xã Bình Khê, vùng Tiên An, Tiên Hòa của xã Vĩnh Quang tỉnh Gia Lai. 

          Hẳn nhiên sự hình thành cư dân Bình Định thuở ban đầu trong đó cũng có mặt những dòng tộc các địa phương ngoài sông Gianh, nhưng chắc chắn là không nhiều, chỉ điểm xuyết chớ không phải là cốt lõi để làm nên Tánh Khí người Bình Định

          Có thể chịu khó sưu tra thư tịch cổ mà nhận ra được xuất xứ của cư dân một vùng miền. Nhưng ai có chịu khó mấy cũng khó thể thử nghiệm làm điều tra xã hội học để nhận diện cái bên trong của người một vùng miền. Tánh Khí là lòng dạ bên trong của con người, với một gia đình tánh khí thể hiện của mỗi người còn mỗi khác, thì huống chi là cả một vùng đất. Chỉ tự riêng mỗi người đã là một thực thể mang khá nhiều biến số, mỗi biến số lại biến thiên theo thời gian lẫn không gian cuộc sống. 

          Cho nên nếu nói về Tánh Khí của người Bình Định chẳng qua như Thầy bói xem voi. Tùy điều kiện của phạm vi tiếp xúc, tùy tâm thức và tri thức của mỗi người mà chỉ thấy được phần nào của người Bình Định. Có thể đó là cái cộc cằn của một anh tội phạm nông nổi; cái cục mịch chân chất của một nông dân đi mở đất; cái ngang tàng kiêu dũng của một chiến binh vùng đất địa đầu; cái hùng tâm phản kháng xã hội của những kẻ chọc trời khuấy nước… Và có cái gì đấy mang dáng dấp tự vệ của cư dân đã mất nước nhưng mãnh lực còn đọng dấu ấn thổ âm của tiểu quốc Vijaya cho đến tận bây giờ, ngoài đèo Bình Đê, giáp ranh Quảng Ngãi là thổ âm của tiểu quốc Amaravati, có người đã diễn dịch đó là giọng của người Chiêm nói tiếng Việt. Không những vậy, chế độ mẫu hệ của người Chiêm còn để lại đất Bình Định tập quán sống mà các sử quan triều Nguyễn cho là thói xấu: 

+ Về quan hệ họ tộc thì rất thận trọng, nếu là họ Ngoại dù cách 4-5 đời cũng không lấy nhau. Ngoài ra các thói xấu như ngụ cư ở quê mẹ, quê vợ…”.(8) 

          Lưu dân khi sống chung đụng một thời gian dài, Tánh Khí ít nhiều sẽ trộn lẫn vào nhau, khó thể chọn mẫu thử nghiệm đúng đắn để xem xét cái chung nhất. Người đời nay chỉ có thể hình dung Tánh Khí người Bình Định qua những gì mà họ đã biểu lộ ra ngoài. Nhưng cũng có thể xem đánh giá của người nước ngoài là một mẫu thử nghiệm, chẳng hạn như báo cáo của Charles Chapman cho Toàn quyền Anh ở Belgan sau khi đã tường trình chuyến đi đến Đàng Trong của ông năm 1778, có ghé thành Hoàng đế yết kiến Thái Đức Nguyễn Nhạc: 

+ “Họ là những người lịch sự, hòa nhã, không gây gỗ hại ai, hơi thiên về biếng nhác” (They are a courteous, affable, inoffensive race, rather inclined to indolence).(9) 

          Chapman ở Bình Định từ 13.7.1778 đến 28.7.1778. Sau khi yết kiến vua Thái Đức ở thành Hoàng Đế, phái viên người Anh nầy cùng sứ đoàn cập cảng Đà Nẵng ngày 2 tháng 8, đến 29 tháng 11 rời Đà Nẵng để về lại Calcutta. Nhưng phần nhiều thời gian Chapman đã ở tại Huế, ông phải căng thẳng đối phó với “Ong-ta-hia”, đại lý con buôn của các thuyền mành Trung Hoa, ông cũng phải dành tâm trí đối phó với trấn thủ Thuận Hóa Phạm Ngô Cầu. Dè chừng người Đàng Ngoài, nhưng cuối cùng Chapman cũng phải dùng đại bác, lựu đạn đối đầu cùng quân Trịnh để cướp đường tháo chạy về Đà Nẵng. 

          Thành thử dưới góc nhìn của Chapman, ông thiên về người Quảng Nam và Bình Định hơn là bao trùm luôn hết người Thừa Thiên. Trong Tường trình, ông mô tả sự gặp gỡ và nhận nhiều sự giúp đỡ của quan lẫn dân Bình Định khi cập cảng Quy Nhơn. Vậy thì trong Báo cáo, điều ông nhận xét không phải là nói cho qua quýt, không thể hiện đúng dữ liệu cần phải chính xác để có sách lược tương tranh cùng các nước khác đặt Thương điếm ở Đàng Trong. 

          Cũng có thể tham chiếu thêm góc nhìn của Cristoforo Borri trong Xứ Đàng Trong, bản dịch Thanh Thư. Ngoài việc nói về khí phách, tính dũng cảm của người Đàng Trong so với người Tàu và người Nhật, vị giáo sĩ từng cư trú tại Nước Mặn (An Hòa, xã Tuy Phước Bắc hiện nay) còn thêm nhận xét người Đàng Trong, trong đó có người Bình Định: 

+ “Về bản chất, người Đàng Trong cư xử với người Âu Châu nhã nhặn và lịch sự hơn, dù tự tôn của họ rất cao, họ cho rằng nổi giận là một việc gì đó hèn hạ”.(10) 

Nguyên văn tiếng Pháp của Bonifacy dịch từ bản tiếng Ý đăng trong tập san Đô Thành hiếu cổ (BAVH số tháng 7-12 năm 1931): 

+  Et de sa nature, le Cochinchinois est plus affable et plus courtois dans sa façon de traiter les Européens, bien qu’il ait une haute opinion de sa valeur personnelle ; il pense que se laisser aller à la colère est chose dégradante. (11) 

NGƯỜI BÌNH ĐỊNH XƯA QUA BIỂU HIỆN BÊN NGOÀI 

          Thời nhà Nguyễn, người Bình Định tỏ vẻ như an phận, thường tránh tranh hơn tranh thua. Còn trước đó thì như thế nào!? 

          Không kể đến những giai thoại lẫm liệt khí phách của những danh tướng Tây Sơn đã hiên ngang chịu nhận án chết trong lễ Hiến phù của nhà Nguyễn Gia Miêu, ở Bình Định người vùng kinh đô cổ Đồ Bàn có câu chuyện về “Ông Chảng Ngang Thiên” quãng năm 1778. 

          Ông Chảng có tên là Đinh Văn Nhưng, người làng Bằng Châu nay thuộc phường Đập Đá. Sửa sang xong Hoàng Đế thành, Nguyễn Nhạc lên ngôi, cho phong tước Đinh Văn Nhưng là người thuộc họ tộc từng bảo bọc cha ông mình, và cũng là người thuở ban đầu giúp nhiều tài chánh cho cuộc dấy nghĩa. Theo Quách Tấn kể trong Nước Non Bình Định

+  Được vời đến phong tước, ông Chảng tâu: Ngài tuy làm vua, nhưng vẫn là đạo con cháu. Nếu ngài muốn phong tước cho lão, thì xin cho lão được tự phong, rồi Ngài thông lục. Vua Thái Đức chuẩn y, ông bèn viết

Bùng binh chi tướng 

Uýnh cướng chi quan 

Bộn bàng chi chức 

Chảng chảng ngang thiên 

Do đó Bình Định có câu: “Ngang quá ông Chảng”.(12) 

          Với 4 câu thơ rặt thổ ngữ cổ của xứ Nẫu Bình Định, có người đã diễn dịch ra là: 

Tướng lớn, Quan to

Khiến người được phong mừng quýnh lên

Chức nhiều

Chảng ngang hàng với trời

        Không những muốn được bề bộn chức vụ lẫn tước phong, còn vui hơn nữa mỗi khi lên thành Hoàng Đế, ông Chảng ngồi kiệu bằng thang tre; lọng dù phất bằng lá dừa; đi cùng với mấy anh nông dân với khí vệ, cờ biển là cuốc, mai, cào cỏ, tàu chuối, tàu dừa… Từ đó người Bình Định thấy ai ngang ngang bướng bướng thì dẫn câu “Ngang quá Ông Chảng”. 

          Chuyện “Ông Chảng Ngang Thiên” ẩn chứa khí phách của một người triều Tây Sơn. Gặp thời hưng thịnh nhưng ông Chảng ngang tàng không xem địa vị làm trọng, ẩn chứa góc nhìn đối với chức tước, nghi thức sang trọng chỉ là phù hư trong cuộc sống, ảnh hưởng từ chủ trương không tranh của Phật – Lão. Nam Hoa Kinh có câu chuyện dẫn lời của một anh thợ mộc: “Cây đó vô dụng, gỗ nó không dùng được việc gì cả, vì nó vô dụng nên mới thọ được như vậy, mới không bị đốn”. Nhưng với đời thường, không tranh lấy gì mà có động lực phát triển, lấy gì mà tồn tại. Tâm không tranh trong mỗi người, mỗi người tự tu tập, tự từ bỏ. Ông Chảng đem bày cái Tâm trước bàng dân thiên hạ, thấy có vẻ chướng, tạm gọi là hiển lộ cái ngang bướng của người Bình Định ra bên ngoài xã hội. 

          Ít ra qua câu chuyện cũng thấy được cái ngang bướng của Ông Chảng không phải biện bạch thị phi, chỉ lấy đó làm vui. Chất Văn trong “Ông Chảng Ngang Thiên”, việc Đinh Văn Nhưng xem chức tước địa vị, xem nghi thức kiểu thế tộc sang trọng cũng chỉ như chuyện thường ngày của hàng dân dã. Ít nhiều gì nó thể hiện từ nòi tộc của danh tướng Đinh Liệt từng trải các đời vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Thánh Tông, từng là khai quốc công thần đánh đuổi giặc Minh, từng tham chiến cuộc Nam chinh chiếm Đồ Bàn năm 1471. 

          Võ học Bình Định xưa vốn đã xem trọng việc rèn chất Văn cho người luyện võ. Trong đó lấy sự chịu đựng làm chính, học võ để phòng vệ, để giữa đường thấy chuyện bất bình mà ứng xử, học võ không phải đem võ thuật ra để tranh thắng. tranh hơn. 

          Cũng vậy, cư dân Bình Định gặp vận bỉ vào thời Nguyễn, hầu hết đều an phận không tranh thắng tranh hơn, không cãi không đôi co, nó vốn đã mang cái chất Văn của người học Võ . Ngữ nghĩa lo trong “Bình Định hay lo”, hiểu theo lo sợ là ngữ nghĩa của người vùng miền khác nhìn vào cái an phận thủ thường mà gán thành câu ca. Thật ra người Bình Định không lắm hãi sợ, không đến nỗi phải co ro cúm rúm trước ánh mắt không ưa của triều đại mới. Người Bình Định thấy như an phận, nhưng đâu phải vậy.

          Dưới thời Tự Đức, viên quan lĩnh việc phòng thủ hải phận Bình Định Trần Văn Điển, người làng Phụng Sơn Tuy Phước dám dâng sớ hặc tội Tổng đốc Bình Phú (Bình Định và Phú Yên) Thân Văn Nhiếp nhũng nhiễu, vị tư mà che chở người thân cận. Hữu Tham tri Binh bộ Tổng đốc Bình Phú, người của đất kinh sư phải bị giáng 3 cấp.(13) 

          Theo câu ca “Bình Định hay lo”, nhận diện đấy là nỗi lo, nỗi sợ, lo ngại mất nồi cơm dưới triều đại mới theo nghĩa an phận thủ thường. Nhưng những gì đã có, cái cộc cằn, cái cục mịch, cái hùng tâm, cái ngang tàng, cái đối kháng tự vệ của dân mất nước ngày trước, cái chất không tranh của người học võ đã trộn lẫn vào nhau, chúng đã thành cái “tánh thàng” ra vẻ an phận của người Bịnh Định thời bấy giờ.

          “Tánh thàng”, cái tánh an phận không tỏ vẻ đua tranh, như khờ mà chẳng khờ, như hiền mà không hiền. Thấy thàng thàng chẳng muốn hơn ai, chẳng lý chẳng sự, ai có nói gì cũng chỉ ừ ừ hữ hữ, nhưng khi đổ cộc lên là có chuyện. “Đổ cộc”, đúng như Cristophoro Borri nhận xét là người Đàng Trong dễ nổi giận. “Có chuyện”, nhưng đúng theo như nhận xét của Chapman là người Đàng Trong không gây gỗ hại ai, hơi thiên về biếng nhác. Người Bình Định quả là biếng nhác ganh đua, không tấn công gây gỗ, chỉ ra đòn khi gặp chuyện phải phòng vệ, ra tay giúp người cô thế, không ưa hùa theo quyền thế làm điều xấu xa. 

          Đổ cộc cũng có lắm đường đổ cộc, trước dè bỉu, chê khen của thiên hạ thuở phong trào Thơ Mới thế kỷ trước, Quách Tấn chẳng mừ ử, chỉ ừ ừ hữ hữ bỏ ngoài tai, cứ lầm lũi đi con đường của mình. Và chuyện đổ cộc làm được của ông là đã để lại di sản đồ sộ thơ luật Đường chẳng hề thua kém thơ của các thi nhân đời Đường. Có người theo đó đã lấy nghĩa đầy đặn, dày dặn của từ hậu [] ghép với cái tánh “thàng thàng” mà dùng thành “thàng hậu” để chỉ cho Tánh Khí người Bình Định tiền bán thế kỷ trước. 

          Xâu chuỗi lại xuất xứ cư dân ban đầu của Bình Định, góc nhìn của người nước ngoài trước đây, những gì ở bên ngoài xã hội mà người Bình Định đã biểu lộ… Tạm hệ thống lại để hình dung ra Tánh Khí của người Bình Định xưa, mới thấy cái TÁNH VÕ hiển lộ bên ngoài, cái HỒN VĂN tiềm ẩn bên trong người của vùng đất kinh đô cổ Đồ Bàn. ◙

  

Phan Trường Nghị


Chú thích:

 (1)   Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Nxb Thuận Hóa 2005, tr 247

 (2)   Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa 2006, tập III, tr 15

 (3)   Đại Việt Sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội 1993 bản pdf, tr 480

 (4)   Đại Việt Sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội 1993 bản pdf, tr 530

 (5)  Ô Châu Cận Lục, Nxb Giáo dục 2009, tr 42

 (6)  Ô Châu Cận Lục, Nxb Giáo dục 2009, tr 47

 (7)   Nam triều Công nghiệp diễn chí, Nxb Khoa học xã hội 1993 bản pdf

 (8)   Đồng Khánh dư địa chí, Nhóm biên dịch Ngô Đức Thọ bản pdf

 (9)   Chapman’s Report, British To CochinChina 1778-1822, Kuala Lumpur, tr 73

(10)  Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng hợp TpHCM 2019, tr 82

(11)  Cristoforo Borri, BAVH 1931, tr 308

(12)  Nước Non Bình Định, Nxb Nam Cường Sài gòn 1967, tr 354

(13)  Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục 2001, tập VII bản pdf, tr 1035




Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2025

VIÊN TRI HUYỆN BÌNH KHÊ NĂM 1888


Vua Hàm Nghi bị bắt ở Tân Sở 

Huyện Bình Khê thành lập tháng 9 năm 1888, Tri huyện đầu tiên trấn nhậm ở đây là ai!

Ở Phú Yên thời Cần vương năm 1885 có thủ lĩnh Lê Thành Phương cùng Phó soái Bùi Giảng. Tháng 2 năm 1887, lính Pháp của Thiếu tá Chevreux và lính bản xứ của Trần Bá Lộc đổ bộ vào vịnh Xuân Đài. Sau vài trận đụng độ, Trần Bá Lộc kêu quân Cần vương ra hàng. VN Kháng Pháp Sử của Phạm Văn Sơn tr189 chép:

+  “Bùi Giảng mang bộ hạ ra hàng, mang tiền bạc đã chiếm được khi đánh thành Phú Yên dâng cho Lộc. Y còn xin làm con nuôi Lộc để được đề bạt với thực dân Pháp và nhận chức Ký lục tại Sông Cầu; sau 6 tháng y được bổ tri huyện rồi thăng dần lên tới chức Tổng đốc Bình Định vào ít năm tới. Từ giai đoạn bước sang nghề hại dân bán nước, y đổi tên họ ra Bùi Tử Quảng và thành một tay sai đắc lực cho đế quốc”.

Xét Bùi Giảng nhận chức Ký lục tại Sông Cầu; sau 6 tháng được bổ tri huyện rồi thăng dần lên tới chức Tổng đốc Bình Định, thì đúng Bùi Giảng về Bình Định, ông làm tri huyện ở Bình Khê mới lập.

Không rõ tri huyện Bùi Giảng trấn nhậm Bình Khê đến năm nào. Chỉ biết năm 1908 Bùi Giảng đang làm Án sát đạo Quảng Trị. Vào tháng 4, Bùi Giảng và Án sát Bình Định là Huỳnh Lưu hoán đổi nhiệm sở cho nhau. Mục 1506 Đại Nam Thực Lục phụ biên Đệ lục kỷ có chép:

  +  Man dân Bình Định bắn chết quan Pháp Ba Di. Giám đốc Đô Phi Ninh bàn xin chuẩn lấy Án sát Quảng Trị Bùi Quản tới tỉnh ấy để dự bị bàn bạc.

Vậy là Bùi Giảng đổi ra Bùi Tử Quảng, còn gọi là Bùi Quản nữa! Pháp muốn đưa Bùi Giảng về lại Bình Định là vì theo lời tâu của phủ Phụ Chính: Quản từng làm việc phủ huyện ở Bình Định, am hiểu tình hình. Am hiểu tình hình Bình Định, nên Bùi Giảng được đưa về để bàn bạc đàn áp Phong trào Cự sưu Kháng thuế ở đây.

Phong trào phát sinh ở tỉnh Quảng Nam, hô hào dân quyền, cúp tóc ngắn mặc Âu phục, mở trường diễn thuyết… Quốc sử quán nhà Nguyễn chép là: Lúc bấy giờ dân Quảng Nam xin sưu náo loạn, phủ huyện cơ hồ không thể chế ngự. Vào đến Bình Định lại nổ ra “đánh lính cướp súng, cản trở Công sứ”, làm chết cả quan Pháp.

Bùi Giảng về lại Bình Định, cầm súng lên thành bắn thẳng vào hàng người dân áo lá nón cời, ôn hòa ngồi ngay ngắn dưới thành, đang đòi bỏ sưu, giảm thuế nặng nề, đang đòi quyền được sống của mình. Bùi Giảng cùng quân Pháp mạnh tay giải tán phong trào. Sau Bùi Giảng cùng Tổng đốc mới là Bùi Xuân Huyên ngồi xử án vụ Dân biến ở Bình Định. Tổng đốc Bình Định Tôn Thất Đạm đã bị triệt hồi về Kinh vì nhẹ tay với phong trào. Dân biến ở Bình Định cả ngàn người bị bắt, nhiều người bị chém, có số bị lưu đày Côn đảo. Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo người Hòa Cư, linh hồn của phong trào bị Bùi Giảng kết án tử hình. Nhờ cuộc vận động của các đồng liêu người Bình Định ở Kinh đô, án tử hình của Hồ Sĩ Tạo được giảm còn khổ sai chung thân, mãi đến năm 1920 mới được ân xá, trả về quê. Thời ấy, Phan Châu Trinh trách Bùi Giảng và Bùi Xuân Huyên trong Trung kỳ Dân biến Thỉ mạt ký: “Quan kế nhậm theo chỉ thị thêu dệt, nên chém giết nhiều. Thảm thay!”

Bùi Giảng đến năm 1916 được thăng Tổng đốc Bình Định. Viên tướng Cần vương quỳ lụy kẻ thắng cuộc để xin được làm quan, thản nhiên dẫm lên xương máu của đồng bào để thăng hàm tiến chức. Bao nhiêu đấy chẳng còn lời để diễn giải sự đời. Viên tri huyện đầu tiên của huyện Bình Khê đầu không xuôi nhưng đuôi có lọt không! Mà từ đó người Bình Khê ít khi vồ vập, kề cận kẻ chức quyền.

 Phan Trường Nghị


Thứ Năm, 25 tháng 4, 2019

25 NĂM THƯƠNG HẢI BIẾN VI TANG ĐIỀN


Người xưa có câu Tam thập niên vi nhất, thương hải biến vi tang điền – Cứ ba mươi năm một lần, biển xanh hóa thành ruộng dâu, ruộng dâu hóa thành biển xanh. Trải qua một kiếp nhân sinh, con người ít nhất phải có một lần chứng kiến sự thay đổi của chung quanh, như Tú Xương đã từng giật mình, nghe tiếng ếch kêu mà tưởng đó là tiếng gọi đò:

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai 
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
(Sông Lấp – Trần Tế Xương)

Biến đổi biển xanh hóa thành nương dâu không hẳn là ba mươi năm hay bốn mươi năm có được một lần. Bất quá nó hình tượng hóa sự thường xuyên có việc thay đổi chung quanh là do biến động của thiên nhiên, và không loại trừ là do bàn tay của con người tác động vào. Như ở Bình Định bấy lâu truyền rằng do vua Thái Đức Nguyễn Nhạc bị ông Thầy Địa lý người Tàu mê hoặc, đã cho thay đổi dòng chảy của sông Côn và phụ lưu của nó: 

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

NHỮNG TRẬN CHIẾN Ở TRƯỜNG ÚC


Trường Úc là địa danh thuộc huyện Tuy Phước, từ lâu nó nổi tiếng nhờ những lò vôi một thời cung cấp sản phẩm cho xây dựng, hoặc cho những lò nấu đường thủ công của tỉnh Bình Định. Sự nổi tiếng đó đi kèm với câu ca từ xưa thắm đượm ý tình đôi lứa:

Bao giờ Cầu Úc hết vôi
Đôi ta hết đứng hết ngồi với nhau.

Trường Úc còn hiện diện qua lễ hội Chợ Gò, cái chợ nằm dưới chân núi Úc, ở đây mỗi năm nhóm họp chỉ mỗi một buổi sáng ngày Mồng 1 Tết, là chỉ để bán cái xui rủi, mua lấy cái may mắn đầu năm.

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2019

XƯA & NAY, KỶ NIỆM 25 NĂM THÀNH LẬP



Số tháng 3 năm 2019, tạp chí Xưa & Nay kỷ niệm 25 năm thành lập, có đăng bài Quân Ngự Lâm Của Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh. Từ trang 19 đến trang 25. 

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019

BA CHÌM BẢY NỔI LỄ TIẾT – TẾT HÀN THỰC



Trước xưa ở Việt Nam có những lễ tiết mà nay lần hồi đã đi vào quên lãng, như Hàn Thực (mồng 3 tháng Ba), Thất Tịch (mồng 7 tháng Bảy), Trùng Dương (mồng 9 tháng Chín)… Dĩ nhiên lễ tiết sinh hoạt ở trong dân gian, nếu không hiện diện trong ca dao, tục ngữ thì đôi khi thể hiện trong thơ văn của những nhà khoa bảng, văn học. Có thể sơ lược một đôi bài liên quan các lễ Tiết đó:

+ Về tết Thượng nguyên, có bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu của Nguyễn Du, nói đến nỗi niềm của người góc biển chân trời đêm Rằm tháng Giêng, trăng sáng đầy trời vẫn đến với kẻ cùng đường tuổi mới ba mươi.

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên xuân hứng, thùy gia lạc,
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên.
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thì thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2019

XỨ CÀ ĐÁO


Ở Tây Sơn – Bình Định, Cà Đáo là tên gọi trước đây của thôn Dõng Hòa, xã Bình Hòa. Dõng Hòa phía Nam giáp sông Côn, phía Đông là thôn Vĩnh Lộc và Trường Định cùng xã, phía Bắc là thôn Kiên Ngãi xã Bình Thành, phía Tây là Thuận Nghĩa của Thị trấn Phú Phong. Đúng ra Xứ Cà Đáo xưa không phải chỉ diện tích bấy nhiêu như hiện giờ. Thời Gia Long có Dõng Hòa Nhứt khách hộ ấp và Dõng Hòa Nhì khách hộ ấp, mà Dõng Hòa Nhì đến thời Minh Mạng đổi làm thôn An Dõng, còn lưu tên đến ngày nay thuộc xã Bình Thành.

Danh xưng Cà Đáo, có người còn gọi là Kỳ Đáo. 

+ Bất quá, gọi là Kỳ Đáo cho có ngữ âm tiếng Việt, viết được bằng văn tự Hán ngữ cho có nghĩa, giống như vùng ở phía trên xa có địa danh Hà Riêu được gọi trại ra là Hà Rêu (Hán ngữ là Đài Thủy). Xem ra Cà Đáo là ngữ âm của người Chiêm Thành, mà hiện giờ ở các vùng lân cận vẫn còn di chỉ Champa, trong các di chỉ đó, nổi bật nhất là Tháp Dương Long. 

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

TÌNH SỬ VÕ ĐÔNG SƠ - BẠCH THU HÀ


BỐI CẢNH RA ĐỜI

Người miền Nam trước đây từng sống trong cơn lửa binh, cũng từ đó mà phần đông cảm nhận được và mê mẩn hình tượng nhân vật Võ Đông Sơ qua 6 câu vọng cổ của soạn giả Viễn Châu. Trong cải lương, tình sử Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà cũng đã dựng thành vở, do cụ Nguyễn Tri Khương (1890 – 1962) soạn cho gánh Đồng Nữ Ban khoảng năm 1927.

Có tích mới dịch nên tuồng, khởi đầu tích tuồng là dựa theo truyện Giọt Máu Chung Tình của nhà văn Tân Dân Tử, in ở Sài Gòn năm 1926. Giọt Máu Chung Tình còn được biết với cái tên là Thảm Kịch Tùng Đình. Tác giả Tân Dân Tử (1875 – 1955) người làng Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, Gia Định (Nay Tăng Nhơn Phú thộc quận 9, TpHCM). Tên thật ông là Nguyễn Hữu Ngỡi, có lẽ do âm miền Nam đọc trại chữ Nghĩa mà ra. Chưa rõ họ tộc ông có thuộc tộc công thần Nguyễn Hữu của triều Nguyễn hay không. 

Thứ Năm, 3 tháng 8, 2017

BÊN BỜ SÔNG CÔN - GÁI PHÚ PHONG NGỒI TRONG DỆT LỤA


Theo một câu ca xưa cho thấy đất Phú Phong, thị trấn của huyện Tây Sơn, Bình Định, từ lâu nó đã nổi tiếng với nghề ươm tơ dệt lụa :

Gái Phú Phong ngồi trong dệt lụa
Gái Cây Dừa cấy lúa quanh năm

Đất Phú Phong ngày xưa gọi là Cây Cốc. Còn vùng Định Quang, Định Bình của huyện Vĩnh Thạnh bây giờ, ngày xưa gọi là Cây Dừa. Cách gọi nầy là cách dân gian gọi theo tên cái Chợ có ở trong vùng. Chợ tại mỗi địa phương hồi ấy không nhóm họp hằng ngày như bây giờ. Chợ ngày xưa chia nhau nhóm theo phiên, nghĩa là chợ họp đúng ngày đã định trong tháng. Tên những chợ phiên phải luôn nằm trên đầu môi của cư dân. Phải biết và nhớ phiên chợ, hòng để đúng ngày mang sản phẩm đến đó bán, hoặc đến để sắm sửa những vật dụng, thức ăn cần thiết.