Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

HỌ TRẦN ĐỨC Ở HOÀI NHƠN

 


            Họ Trần ở Hoài Nhơn Bình Định đã lâu đời, theo Website Tộc phả thì tính khởi đầu Thủy tổ là Cống quận công Trần Đức Hòa ( 陳德和 ), nhưng trước đó 2 đời đã có người trong Tộc họ có tên chép trong sử sách, trong sắc phong, rõ nơi mưu sinh, nơi làm việc… Đó là cha của Trần Đức Hòa, Dương Đàm hầu Phó tướng quân doanh Quảng Nam năm 1694: Trần Ngọc Phân ( 陳玉芬 ), và Nội tổ của Trần Đức Hòa là Hương lão làng Bồ Đề: Trần Ngọc Trách ( 陳玉岝 ).

I._ VỀ TRẦN NGỌC PHÂN

            Trần Ngọc Phân và Trần Đức Hòa có tên trong sử sách là theo Đại Nam thực lục tiền biên chép, khi Nguyễn Hoàng về Thuận Hóa không ra kinh đô nữa, năm 1602 vượt Hải Vân vào Quảng Nam:

Bây giờ khám lý phủ Hoài Nhân (nay thuộc Bình Định) là Trần Đức Hòa (bấy giờ gọi là Cống quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến, chúa đãi rất hậu. Rồi trở về Thuận Hóa.(1)

            Căn cứ các sắc phong mà họ Trần Đức ở Hoài Nhơn còn lưu giữ được, như các sắc ngày 28 tháng 7 niên hiệu Chánh Trị thứ 7 (năm 1564):

+  Sắc ban cho Trưởng Nam của Trần Ngọc Phân là Trần Đức Hòa được chức Hoằng Tín đại phu

+  Sắc ban cho Vợ của Trần Ngọc Phân là Nguyễn Thị Ngọc (阮氏玉) được tước phẩm Dương Đàm Chánh phu nhơn. Dương Đàm Chánh phu nhơn là theo tước Dương Đàm hầu của chồng.

+  Sắc ban cho Mẹ của Trần Ngọc Phân là Bùi Thị Phần (裴氏蕡) được tước phẩm Huệ Trung bá Tự phu nhơn. Huệ Trung bá Tự phu nhơn là theo tước Huệ Trung bá của chồng.

            Từ đây thấy được Trần Ngọc Phân được ban tước Dương Đàm hầu vào năm Chánh Trị thứ 7 (năm 1564), đời vua Lê Anh Tông (1558-1571). Thời nhà Lê, khi người có công được phong tước, Cha mẹ Vợ con của họ cũng được nhận tước hàm. Điển lệ ấm phong của triều Lê được Phan Huy Chú ghi nhận trong Lịch Triều hiến chương loại chí: (2)

+ Người được Quận công thì Cha và Ông đều được phong hầu, Mẹ và Bà đều được phong Chánh phu nhân, Vợ được phong Quận phu nhân, Con trưởng được phong Triều Liệt đại phu, Các con khác là Hoằng Tín đại phu, Cháu trưởng được Hiển Cung đại phu

+  Người được tước hầu: Cha và Ông đều được phong tước Bá, Mẹ và Bà đều được phong Tự phu nhơn, Vợ được phong Chánh phu nhơn, Con trưởng được phong Hoằng Tín đại phu, Các con khác được Hiển Cung đại phu, Cháu trưởng được Mậu Lâm lang.

            Cha mẹ của Trần Ngọc Phân được tước Huệ Trung bá (惠忠伯), Mẹ được tước phẩm Tự phu nhơn (序夫人), Vợ Trần Ngọc Phân được Chánh phu nhơn (正夫人)… Xem vậy thời Lê Trung Hưng (1533-1789) vẫn dùng theo Điển lệ đời Hồng Đức thời Lê.

            Khảo sát một sắc phong ngày 28 tháng 7 năm Chánh Trị thứ 7 (tức năm 1564) để nhận diện chức vụ, phẩm hàm của Trần Ngọc Phân, là sắc ban cho Vợ là Nguyễn Thị Ngọc được phẩm Chánh phu nhơn.

Ảnh sắc phong được chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ Lịch sử Bình Định


Nguyên văn sắc phong:

勅蓬山縣,蒲堤社阮氏玉,為特進輔國上將軍,錦衣衛都指揮使司,都指揮使揚潭侯陳玉芬妻.可封揚潭正夫人.故勅

正治七年,七月, 二十八日

Phiên âm:

+  Sắc Bồng Sơn huyện, Bồ Đề xã Nguyễn Thị Ngọc, vi Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân thê. Khả phong Dương Đàm Chánh phu nhân. Cố sắc.

     Chánh Trị thất niên, thất nguyệt, nhị thập bát nhật

Tạm dịch:

+  Sắc ban Nguyễn Thị Ngọc ở xã Bồ Đề huyện Bồng Sơn, là vợ của Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trần Ngọc Phân, chức Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, tước Dương Đàm hầu.

    Xứng phong Dương Đàm Chánh phu nhân. Nên có sắc này.

     Niên hiệu Chánh Trị thứ 7, ngày 28, tháng 7

            Từ đây biết được Trần Ngọc Phân được phong Dương Đàm hầu là có quân công khi là Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty.

            Đô chỉ huy sứ ty còn gọi tắt là Đô ty, gọi theo 3 ty Đô, Thừa, Hiến đời Hồng Đức. Đô Tổng binh sứ ty coi việc binh chính, Thừa chính sứ ty giữ sổ sách quân và dân, Hiến sát sứ ty giữ việc tâu bày những lời nói phải, đàn hặc tội lỗi của quan lại và thẩm xét tra hỏi việc hình ngục. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc sử quán triều Nguyễn trình bày 8 chức của 3 ty Đô, Thừa, Hiến thời Lê Trung Hưng: (3)

-   Đô Tổng binh sứ ty, đặt 3 chức: Tổng binh sứ (總兵使), Tổng binh Đồng tri (總兵同) và Tổng binh Thiêm sự (總兵僉事).

-   Tản trị Thừa chính sứ ty, 3 chức Thừa chính sứ, Tham chính và Tham nghị.

-   Thanh hình Hiến sát sứ ty, đặt chức Hiến sát sứ, và Hiến sát phó sứ.

1) Trần Ngọc Phân nắm vệ Cẩm Y vào năm nào

            Theo Lịch triều Hiến Chương loại chí của Phan Huy Chú, niên hiệu Thiên Hựu (1556-1557) đời Lê Anh Tông, người nắm vệ Cẩm Y là Đô chỉ huy sứ Hoàng Đình Ái. Năm 1558 ông đánh với giặc nhiều trận ác liệt ở bến đò Lục, Hoàng Giang; ông đều có công tiến lên trước. Năm 1559 ông được tước Vinh quận công, bấy giờ 32 tuổi. Ít lâu sau vâng mệnh làm Tiên phong đem quân đánh Mạc, do đường Thiên Quan ra Mỹ Lương, Bất Bạt.(4)

            Hoàng Đình Ái làm Tiên phong theo Trịnh Kiểm ra Bắc, có lẽ lúc nầy vệ Cẩm Y được Trần Ngọc Phân tiếp nhận. Cẩm Y vệ là lực lượng bảo vệ Vua và triều thần. Ở hành tại An Trường, (thời nhà Nguyễn, An Trường thuộc Thụy Nguyên phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoa) Trần Ngọc Phân chắc có quân công nên mới được tước Dương Đàm hầu, vì vậy có săc năm 1564 ban cho Cha mẹ Vợ con được nhận phẩm hàm. Vậy có thể xác định năm Trần Ngọc Phân nhận chức Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y là năm thay cho Vinh quận công Hoàng Đình Ái.

2) Trần Ngọc Phân được phong Phó tướng vào năm nào

            Các sắc phong mà Họ tộc Trần Đức ở Hoài Nhơn còn lưu giữ, có Sắc ngày 16 tháng 5 năm Quang Hưng thứ 17 tức năm 1594, là Sắc phong vua Lê cho ông đảm nhiệm chức Phó tướng của quân doanh Quảng Nam.

Ảnh sắc phong được chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ Lịch sử Bình Định


            Nguyên văn sắc phong có 12 dòng, qua thời gian bị mòn khuyết 7 chữ cuối ở 7 dòng đầu. Lộc Xuyên Đặng Quý Địch đã xét vết tích tự dạng còn sót lại, đề nghị điền thay những chữ bị mòn khuyết thành bản sắc phong hoàn chỉnh. Ông phiên âm và dịch nghĩa trong tập Trần Đức Hòa Tư Liệu, Nxb Văn hóa Dân tộc năm 2004.

            Tiếp nhận 7 chữ điền khuyết của Lộc Xuyên, chỉ thay thế chữ Ngư () ở cuối dòng thứ 5 bằng chữ Di (), vì cùng có dạng nháy Cá ở trên đầu như vết tích của sắc phong. Nhưng chữ ()thể hiện rõ nhiệm vụ của chức Đô Tổng binh Thiêm sự của Trần Ngọc Phân hơn là chữ Ngư ().

Từ đây có Nguyên văn của sắc phong:

勅廣南處,都緫兵使司都緫兵僉事,鎮邉營副將楊潭侯.

陳貴府丈夫,資格國士風流.緫兵戎邉境立功趙邉良將.控夤面捍留禦患,越甸福神.蕩平黙相於威灵,尊奬載加於禮數.

可加封:廣南處,都緫兵使司都緫兵僉事,鎮邉營副將楊潭侯果毅陳貴府.故勅

光興十七年, 五月,十六日

Phiên âm:

Sắc Quảng Nam xứ,  Đô Tổng binh sứ ty Đô Tổng binh Thiêm sự,  Trấn biên doanh Phó tướng Dương Đàm hầu.

Trần quý phủ trượng phu, tư cách quốc sĩ phong lưu.  Tổng binh nhung biên cảnh lập công Triệu biên lương tướng. Khống di diện hãn lưu ngự hoạn Việt điện phúc (thần). Đãng bình mặc tương ư oai linh. Tôn (tưởng) tái gia ư lễ số.

Khả gia phong Quảng Nam xứ, Đô Tổng binh sứ ty Đô Tổng binh Thiêm sự, Trấn biên doanh Phó tướng Dương Đàm hầu Quả Nghị Trần quý phủ. Cố sắc.

Quang Hưng thập thất niên, ngũ nguyệt, thập lục nhật

Tạm dịch:

+  Sắc ban cho Dương Đàm hầu, Phó tướng chỉ huy quân doanh Trấn biên (doanh Quảng Nam), từng giữ chức Đô Tổng binh Thiêm sự ở Đô Tổng binh sứ ty, xứ Quảng Nam.

Trần quý phủ cốt cách trượng phu phong thái quốc sĩ. Nắm binh nhung ngoài biên cương phá giặc lập công như tướng rường cột của nước Triệu. Khống chế thuộc lại ăn của đút lót để ngăn mầm họa giữ thần khí phúc lành đất Việt. Là người trầm mặc, ít lời nhưng linh hoạt oai phong bình trị, phải gia thêm tưởng thưởng.

Nay gia phong Trần quý phủ nguyên là Đô Tổng binh Thiêm sự ở Đô Tổng binh sứ ty xứ Quảng Nam, tước Dương Đàm hầu. Xứng đáng tôn hiệu Quả cảm Cương nghị, chức Phó tướng dinh Trấn biên.

Cho nên có sắc mệnh nầy.

Niên hiệu Quang Hưng thứ 17 (năm 1594), ngày 16, tháng 5.

            Xét thấy Trần Ngọc Phân trước khi được phong Phó tướng năm 1594, ông từng giữ chức Đô Tổng binh Thiêm sự của Đô ty nữa. Tức trong thời gian từ năm 1564-1594, quãng thời gian này, Trần Ngọc Phân đã giúp Nguyễn Hoàng đẩy lui quân Mạc, dẹp trừ các thổ tướng đánh nhau, ra sức ổn định Thuận Quảng có phần tử muốn chạy theo họ Mạc. Nên vua cho giữ chức Đô Tổng binh Thiêm sự của dinh Quảng Nam. Ông đã đụt pháo xông tên ngoài chiến trận đương cự với tướng nhà Mạc, trong trướng còn điều phối tướng sĩ, thăng thưởng quân binh. ngăn chặn kẻ 2 lòng ở xứ Quảng Nam muốn chạy về với nhà Mạc, làm đúng nhiệm vụ Đô Tổng binh Thiêm sự của Đô ty Quảng Nam.

            Tháng Tư năm 1593, vua Lê Thế Tông (1578-1599) ngự giữa Thăng Long, nhận lễ của bá quan mừng chiến thắng nhà Mạc, đã về được kinh đô. Vua đại xá cả nước, ban thưởng các quan. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, vua đã xét công, gia phong cho:

Hoàng Đình Ái làm hữu tướng thái úy, Vinh quốc công;

Nguyễn Hữu Liêu làm thái úy, Dương quốc công;

Quận công Trịnh Đỗ làm thái phó;

Trịnh Đồng và Trịnh Nành làm thái bảo;

Lê Bách và Hà Thọ Lộc làm thiếu úy;

Ngô Cảnh Hựu và Trịnh Văn Hải làm thiếu bảo;

Lại bộ thượng thư Nguyễn Mậu Tuyên làm thiếu phó Quỳnh quận công.

Những người còn lại đều được gia thăng chức tước theo thứ bậc khác nhau.

            Tháng 5, Thái phó Đoan quận công Nguyễn Hoàng từ Thuận Hoá đích thân đem tướng sĩ, voi ngựa, thuyền ghe về Kinh lạy chào, đem sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam dâng nộp.(5)

            Tiết chế Trịnh Tùng dâng biểu tâu cho Nguyễn Hoàng làm Trung quân đô đốc phủ Tả đô đốc, Chưởng phủ sử Thái úy Đoan quốc công, sai làm Tổng đốc tướng sĩ bản dinh và thống lĩnh 300 chiếc thuyền lớn nhỏ của thủy quân các xứ Nam đạo, đi đánh giặc biển, tàn quân Mạc ở các xứ Sơn Nam, Hải Dương. Thâm tâm của Trịnh Tùng là không muốn cho Nguyễn Hoàng về Nam. Bấy giờ Quảng Nam vắng chủ, có lẽ Nguyễn Hoàng đã cầu xin vua, cũng có lẽ được Hoàng Đình Ái thêm vào, nên Trần Ngọc Phân được sắc phong Phó tướng quân doanh Quảng Nam.

3) Trần Ngọc Phân được phong thần năm 1689

            Khi ông mất được dân lập đền thờ. Năm 1689 đời chúa Nguyễn Phúc Thái, còn gọi là Phúc Trăn, là vị chúa ở ngôi có 4 năm nhưng tính tình bao dung, nhẹ hình phạt, giảm sưu thuế, nên đương thời được gọi là Chúa Nghĩa; chúa xét thấy đền thờ của Trần Ngọc Phân nhiều lần cầu đảo linh ứng, lúc còn sống có nhiều công trạng nên sắc ban cho ông là Phu Nghĩa chi thần (敷義之神), là vị thần trải ban Nghĩa khí giúp nước giúp dân.

            Sắc phong Phu Nghĩa chi thần, họ tộc Trần Đức nay còn lưu giữ.



Nguyên văn sắc phong chép lại sưu tập của Lộc Xuyên Đặng Quý Địch trong Trần Đức Hòa tư liệu:

勅旨各處水步諸営, 為加封靈神事. 照得錦衣衞

都指揮使司,都指揮使都佥事,陳貴公之神.能福

國惠民, 前所禱祈,屢有靈應.

當今光登寶位,嗣守 鴻圖,廣施𥘉政,宏規,宜贈尊

神顯號. 可加封: 錦衣衞都指揮使司, 都指揮使

都佥事,陳貴公敷義之神, 以報盛徳者.

右箚贈: 錦衣衞都指揮使司, 都指揮使都佥事,

陳貴公敷義之神. 准此.

政和拾年,陸月,初陸日 對同勾𥡞兼知簿 陳廷恩

Phiên âm:

Sắc chỉ các xứ thủy bộ chư doanh, vi gia phong linh thần sự. Chiếu đắc Cẩm Y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Trần quý công chi thần. Năng phúc quốc huệ dân, tiền sở đảo kỳ, lũ hữu linh ứng.

Đương kim quang đăng bảo vị, tự thủ hồng đồ. Quảng thi sơ chánh hoằng quy, nghi tặng tôn thần hiển hiệu. Khả gia phong: Cẩm Y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Trần quý công Phu Nghĩa chi thần, dĩ báo thịnh đức giả.

Hữu tráp tặng: Cẩm Y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Trần quý công Phu Nghĩa chi thần. Chuẩn thử.

Chánh Hòa thập niên, lục nguyệt, sơ lục nhật.

Đối đồng Câu kê kiêm Tri bạ Trần Đình Ân.

Tạm dịch:

+  Sắc truyền cho các xứ, các quân doanh thủy bộ biết việc gia phong vị thần linh.

Đối chiếu xét thấy vị thần họ Trần, vốn người tôn quý, từng giữ chức Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, chức Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Thần có khả năng giúp nước giúp dân, trước đã nhiều lần cầu đảo thấy có linh ứng.

Nay đang ngôi báu nối giữ nghiệp lớn, rộng ban pháp chính ban đầu đặt khuôn phép lớn, nên ban tặng tôn hiệu cao quý cho thần. Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự họ Trần xứng phong là Phu Nghĩa chi thần để báo đáp đức lớn của thần.

Nay trên ban tặng Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự Trần quý công là thần Phu Nghĩa.

Chuẩn y như vậy.

Ngày mồng 6 tháng 6 niên hiệu Chánh Hòa thứ 10 (năm 1698)

Trần Đình Ân, chức Câu kê kiêm Tri bạ đã đối chiếu sổ bộ

            Sắc phong cho một nhân vật, nó là cứ liệu đáng tin cậy nhứt để xét hành trạng nhân vật đó trong lịch sử, bổ sung cho lịch sử những sự kiện còn thiếu sót. Con của Trần Ngọc Phân là Trần Đức Hòa được các quan viết sử ghi nhận công trạng, như tiến cử Đào Duy Từ lên chúa Sãi, từ đó Bắc cự chúa Trịnh, Nam mở rộng phên giậu. Nên gần như hành trạng của Trần Ngọc Phân không được để tâm đến. Những quan viết sử ngày xưa cũng khó khổ lắm thay. ◙

Phan Trường Nghị

 

Chú thích:

(1) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 pdf, tr 39

(2) Lịch triều Hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục 2005 pdf, tr 634

(3) Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Nxb , tr 527

(4) Lịch triều Hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục 2005 pdf, tr 405

(5) Đại Việt Sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội 1993 bản pdf, tr 1296


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

TẾT GIỮA NĂM VÀ PHÉP LÀM LỊCH CỦA NGƯỜI VIỆT

 


           Mồng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm, người Việt thuở xưa coi như là một ngày lễ Tết, sự sum họp gia đình không kém chi ngày Tết Nguyên đán. Lễ Tết nầy gọi là Tết giữa năm, Tết giết sâu bọ. Vì chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nên người Việt còn gọi Mồng 5 tháng 5 là Tết Đoan ngọ, Đoan ngũ, hay Trùng ngũ.

          Đối với Người Hoa, Tết Đoan ngọ liên quan đến truyền thuyết ngày mất của Khuất Nguyên. Cuối thời Chiến quốc, Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở với chức Tam Lư đại phu được Sở Hoài Vương tin dùng, nhưng sau thất sủng vì vua nghe lời gièm pha của những kẻ đố kỵ. Đến thời Khoảnh Tương Vương, ông bị vua đày xuống phía Nam Trường giang. Tiếp đến, kinh đô Dĩnh của Sở bị quân Tần chiếm phá, thất chí, Khuất Nguyên trầm mình dưới giòng Mịch La. Theo truyền lại, ông mất vào mồng 5 tháng Năm, từ đấy lấy ngày nầy làm ngày tưởng nhớ ông.

            Nếu xét theo Hán ngữ, Trùng ngũ [重五] tháng và ngày đều cùng con số 5. Còn Đoan ngũ [] hoặc Đoan ngọ [端午], theo Giáp cốt văn, Đoan [] có hình ảnh người đứng trước núi cúng tế, biểu thị đầu mối của khởi nguyên. Ngũ nguyệt hay Ngọ nguyệt là tháng 5, tháng có khí dương khởi phát, vì vậy ngày Mồng 5 tháng 5  còn gọi là ngày Đoan dương [端陽]. Xét vậy thì Trùng ngũ, Đoan ngũ hay Đoan ngọ liên quan đến năm, tháng, ngày, giờ. Nghĩa là liên quan đến sự chuyển vận của đơn vị thời gian, cũng tức là liên quan đến phép làm Lịch.

Sơ lược Lịch pháp của Âu Tây và Á Đông

            Sau thời kỳ săn bắn hái lượm là đến giai đoạn chăn nuôi trồng trọt, con người làm Lịch, ghi và lưu lại chu kỳ thời tiết để theo đó mà học hỏi, đáp ứng nhu cầu của Nông vụ. Cứ từ đêm tối chuyển qua sáng, đón nhận được ánh mặt trời gọi là sang một ngày mới. Lịch pháp định nghĩa Ngày là đơn vị thời gian tương đương thời gian Trái đất tự xoay quanh nó giáp một vòng, hệ đo lường quốc tế SI (Système International d'unités) xác định Ngày bằng 24 giờ. Mỗi một mùa trăng trôi qua, xem là một Tháng.

            Chuyển vận của mặt trời làm nên Ngày, chuyển vận của mặt trăng làm nên Tháng. Thời cổ đại, các nước trên thế giới đều lấy 10 tháng của tuần Trăng cấu thành một Năm. Về sau phát hiện ra chu kỳ một năm 10 tháng không đúng với chu kỳ tuần hoàn của thời tiết, người xưa điều chỉnh lại chu kỳ một năm có 12 tháng. Dấu vết điều chỉnh như bên trời Tây tháng 10 và 11 tiếng Anh là October, November, trong khi gốc của tiếng La Tinh: Octo nghĩa là thứ 8, Novem nghĩa là thứ 9. Vốn xưa lịch Cộng hòa La Mã gồm 10 tháng là tháng Martius, Aprilis, Maius, Junius, Quintilis, Sextilis, September, October, November và December.(1) Còn với người Việt, 2 tháng được thêm vào là tháng Chạp và tháng Giêng, nên ngày xưa tháng được đọc theo thứ tự là Một, Chạp, Giêng, Hai cho đến Mười.

            Bên trời Tây cải tiến Lịch theo chuyển vận biểu kiến của mặt trời. Tháng không dựa theo tuần trăng mà quy ước một năm 12 tháng, quy ước số ngày trong mỗi tháng sao cho một năm đủ 365 ngày là được. Thuật ngữ Năm Chí Tuyến (tropical year) hay Năm Hồi quy, lịch pháp định nghĩa là đơn vị thời gian tương đương thời gian Trái đất quay giáp một vòng quanh Mặt trời được 365,24220 ngày,(2) là thời gian Trái đất quay trở lại đúng vị trí ban đầu trên mặt phẳng chứa quỹ đạo Trái đất trong Thiên cầu. Mặt phẳng này gọi là mặt phẳng Hoàng đạo.

            Trong phép làm lịch, Ngày được lấy tròn, không thể tính số lẻ. Lấy tròn 1 Năm có 365 Ngày, thì với số dư 0,24220 ngày khi qua 4 năm gộp lại được gần 1 Ngày. Nói đúng hơn cứ 400 năm thì dư ra gần 97 ngày. Vì vậy quy ước cứ 4 năm, trong đó có một năm gọi là Năm nhuận, được thêm 1 ngày thành 366 ngày, nên nhuận theo Lịch Dương là nhuận ngày. Các nhà làm lịch quy định là thêm ngày nhuận đó cho tháng 2, thành thử vào tháng 2 năm nhuận có 29 ngày, thay vì bình thường là 28 ngày. Những năm nhuận của Lịch Dương là năm chia chẵn cho 4, và là những năm đầu thế kỷ chia chẵn cho 400.

            Ở phương Đông sử dụng Lịch tuần Trăng, qua đó Tháng và Ngày là hiện tượng thiên nhiên. Ngày Sóc là ngày không Trăng đầu tháng, Ngày Vọng là ngày Trăng tròn giữa tháng, là những ngày xảy ra hiện tượng giao hội của Hoàng đạoBạch đạo trong thiên cầu (mặt phẳng chứa quỹ đạo Mặt trăng đi quanh Trái đất trong Thiên cầu gọi là mặt phẳng Bạch đạo).

Trong thiên văn học, Tháng Sóc Vọng (còn gọi là Tháng Giao Hội), là độ dài chu kỳ thời gian Mặt trăng trở lại cùng một vị trí tương đối so với Mặt trời trong thiên cầu (hiện tượng giao hội của Hoàng đạo và Bạch đạo). Do có sự nhiễu loạn của lực hấp dẫn từ các thiên thể trong Thái Dương hệ mà độ dài nó dao động từ 29,27 ngày tới 29,83 ngày. Các nhà Thiên văn học ngày nay xác định trung bình là 29,53059 ngày.(2)

            Trong phép làm lịch, tính được các thời điểm xảy ra giao hội giữa Hoàng đạo và Bạch đạo là xác định được ngày mồng Một của mỗi tháng. Khoảng thời gian giữa các ngày đó, xem xét nó là 29 hay 30 ngày mà tính cho tháng đó thiếu hay đủ. Tháng âm lịch có thể có 2 tháng thiếu liên tục, có năm xảy ra 3 tháng đủ liên tục.

Nếu năm Âm lịch được cấu thành từ 12 tháng Sóc Vọng thì độ dài của năm:

12 x 29,53059 = 354,36708 ngày.

So với Năm Hồi Quy (365,24220 ngày) thiếu gần 11 ngày

Vậy nếu lấy 12 Tuần Trăng cấu thành 1 năm, thì 354,3672 ngày chưa đủ để giáp năm. Còn nếu lấy 13 Tuần Trăng cấu thành 1 năm, thì độ dài của năm:

13 x 29,53059 = 383,89767 ngày

So với Năm Hồi Quy (365,24220 ngày) thì hơn 18 ngày.

Để khắc phục sự thiếu hụt năm Âm lịch so với chu kỳ khí hậu, năm Âm lịch được thiết lập trên cơ sở 12 tháng, khi qua đến năm thứ 2 thì năm đó thiếu mất 22 ngày. Đến năm thứ 3 thiếu 33 ngày, có nghĩa là hơn 1 tháng. Các nhà làm lịch tính thêm vào 1 tháng cho năm nầy làm tháng nhuận, phần còn dư sẽ tính vào chu trình kế tiếp. Do đó Nhuận lịch Âm gọi là Nhuận tháng.

            Vào thời cổ, các nhà làm lịch Á Đông đã tìm được chu trình 19 năm thêm 7 tháng nhuận, số ngày các năm Âm lịch gộp lại sẽ tiến gần số ngày Năm Hồi Quy tương ứng. Về sau nhà thiên văn cổ phương Tây của đất nước Hy Lạp là Meton cũng tính được chu trình nầy. Hiện giờ người ta gọi chu trình đó là chu trình Meton.(3) Sơ lược chu trình trên như sau:

Bội số chung nhỏ nhất cho số ngày của tháng Sóc Vọng và số ngày Năm Hồi Quy là đẳng thức xác lập trên độ dài Năm Hồi Quy và Chu kỳ tuần trăng:

m  x  365,24220 =  n  x  29,53059

đó chính là tỷ lệ :

Giá trị tối giản gần đúng của tỷ lệ trên lần lượt là :

Các phân số trên là chu trình có Tử số thể hiện số Năm Hồi Quy, Mẫu số thể hiện số Tháng Sóc Vọng. Chu trình càng lớn, sai số càng nhỏ. Ví dụ với phân số thứ 6 là:

            Nó có ý nghĩa là tỷ lệ 19 Năm Hồi Quy với 235 Tháng Sóc vọng (19 năm Âm lịch thêm 7 tháng nhuận), là tỷ lệ tối giản có sai

số 0,08685 ngày:

19  Năm Hồi Quy:     19  x  365,24220  =   6939,60180 ngày

235 Tháng SócVọng : 235  x  29,53059  =   6939,68865 ngày

Qua 19 năm, sai số chỉ dao động trong khoảng gần 2 giờ 10 phút, tạm gọi là chính xác, bảo đảm sự phối hợp chu kỳ Tuần Trăng hài hòa với Chu kỳ của chuyển vận Mặt trời, nghĩa là chu kỳ tuần hoàn của khí hậu, thời tiết. Người xưa đã chấp nhận quy tắc nầy trong phép làm Lịch Ta. Với chu trình 19 năm trong đó đặt 7 năm nhuận (gọi là một chương), Lịch Ta đặt nhuận vào các năm thứ 3, 6, 8 hoặc 9, 11, 14, 17, 19 của chu trình.

            Trong thực tế làm Lịch hiện nay, chỉ cần xem khoảng cách điểm Sóc trước ngày Đông Chí thứ nhất với điểm Sóc trước ngày Đông Chí thứ hai (ngày Đông Chí bao giờ cũng ở vào tháng 11 âm lịch). Nếu khoảng cách nầy nhỏ hơn 365 ngày, năm ấy có 12 tháng Âm lịch. Còn khoảng cách ấy lớn hơn 365 ngày, năm đó có 13 tháng Âm lịch, có nghĩa là năm ấy nhuận. Trong 13 tháng nầy, quy định tháng nào không có chứa ngày Trung Khí, người xưa bố trí tháng đó làm tháng nhuận.

Ngày Trung khí là ngày Khí của Tiết Khí, gọi vậy vì nó nằm giữa 2 ngày Tiết. Chúng gồm 4 ngày Xuân Phân, Thu Phân, Đông Chí, Hạ Chí, và 8 ngày khác là các ngày Cốc Vũ, Vũ Thủy, Đại Thử, Xử Thử, Tiểu Tuyết, Đại Hàn, Sương Giáng, Tiểu Mãn.

            Tên của tháng nhuận được gọi theo tên tháng trước nó, kèm thêm từ “nhuận”. Lịch tuần Trăng phối hợp với yếu tố Tiết khí (Tiết khí chính là ngày Dương lịch), là cấu thành tuần hoàn của chuyển vận mặt trời làm nên một năm, để trở thành Âm Dương Lịch có nhuận tháng.


 Vì sao người Việt gọi Tháng Năm âm lịch là giữa năm

            Khi một năm có 10 tháng thì hiển nhiên tháng 5 là giữa năm. Lúc lịch cải tiến thành 12 tháng, phải xem lại đầu năm ngày xưa là tháng nào.

            Theo ca dao còn truyền, tháng 11 âm lịch hiện nay người xưa gọi là tháng Một. Còn dựa vào tháng Can Chi, tháng 11 âm lịch ngày nay được xưa gọi là tháng Tý, nghĩa là lấy Chi đầu tiên của Thập nhị Chi đặt tên cho tháng, tức là tháng đầu tiên của năm. Đất nước Trung Hoa từ xưa, nhà Chu lấy tháng Tý làm tháng chính Sóc khởi đầu cho một năm, nhà Hán ăn Tết Nguyên Đán tháng Dần (Việt Nam gọi là tháng Giêng) nên từ đấy gọi là ăn Tết theo Lịch kiến Dần. Xét sự tích Bánh Chưng Bánh Dầy thì người Việt đã biết ăn Tết vào thời thái cổ. Không loại trừ người Việt cổ ăn Tết Nguyên Đán theo Lịch kiến Tý, tức là ăn Tết vào tháng Tý, tức cũng là tháng 11 hiện nay. Thời Tự Đức, Đại Nam nhất thống chí Viện Sử học dịch:

Thổ dân ở các huyện Bất Bạt và Mỹ Lương, hằng năm lấy tháng 11 làm đầu năm, hàng tháng lấy ngày mồng 2 làm đầu tháng và lấy ngày mồng 1 làm cuối tháng, gọi là tháng lùi ngày tiến, lại gọi là “ngày nội”, dùng trong dân gian, còn ngày quan, lịch gọi là “ngày ngoại”, chỉ dùng khi có việc quan.(4)

            Xét ra vậy thì cổ xưa khi Lịch cải tiến 12 tháng, tháng đầu năm của người Việt là tháng Tý (tháng 11). Tính Một Chạp Giêng Hai đến tháng Năm là tháng Ngọ, thì tháng Năm là tháng thứ Bảy cũng là tháng giữa năm.

Vì sao lại ăn Tết giữa năm

Là dân nông nghiệp lúa nước, người Việt từ xưa có câu ca:

Tháng Chạp là tháng trồng khoai,

Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.

Tháng Ba cày vỡ ruộng ra,

Tháng Tư làm mạ mưa sa đầy đồng.

Tháng Năm gặt hái đã xong,

Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy…

            Tháng Tư làm mạ để chuẩn bị cho vụ Mùa, trong khi bước qua tháng Năm lại là tháng thu hoạch vụ Chiêm. Trải nghiệm trồng trỉa lâu đời của người Việt, sau cây mưa thường có vào tiết Tiểu Mãn hằng năm (ngày 21 tháng 5 DL), là tới tiết Mang Chủng (ngày 5 hoặc 6 tháng 6 DL) tức thời điểm phải xuống giống, hoặc cấy hoặc gieo. Khoảng thời gian nầy, xét vào lịch đã cải tiến theo Tiết khí, biên độ xê dịch của ngày Mồng 5 tháng 5 âm lịch bao giờ cũng xoay quanh, hoặc trước hoặc sau tiết Mang Chủng. Như vậy ăn mừng vào giữa năm, xem như là lễ Tết, là mừng đã thu hoạch xong vụ Chiêm, mừng đã xuống được giống vụ Mùa.

 

Người Việt xưa đã ăn Tết giữa năm ra sao

            Nghề Nông ngày xưa khi thời vụ đến, cần phải tập trung lao động mới đáp ứng kịp thời vụ, rồi xuống giống được là ăn mừng. Do vậy Tết giữa năm ngày xưa là ngày đoàn tụ của anh em, con cháu trong nhà. Nếp xưa để lại, khi Cao Bá Quát làm một ông quan nhỏ bé ở Huế không về được với gia đình trong ngày Đoan Ngọ, trong bài thơ Đoan Dương (端陽), ông đã thốt:

漠漠家鄉兩親隔

栖栖羇宦一兄遙

Trang Thi viện phiên âm:

Mạc mạc gia hương lưỡng thân cách,

Thê thê ky hoạn nhất huynh dao…

Tạm dịch:

Mờ mịt quê nhà xa phụ mẫu

Lăng xăng đất khách cách bào huynh…

            Trong ngày Tết Đoan ngọ xưa, vì mới vừa thu hoạch mùa màng nên chú Rể có tục mừng Cơm Mới cho gia đình vợ sắp cưới. Học trò còn có tục Sêu Tết cho Thầy dạy, lương phạn của Thầy Đồ xưa chỉ nhờ vào thu hoạch suất ruộng công điền cấp cho mà tự canh tác.

            Tết Đoan ngọ người Việt thường dùng rượu nhẹ như rượu nếp, hoặc rượu ngâm thảo dược như thạch xương bồ, uống để điều hòa khí huyết trước thời tiết vừa mưa to, vừa nắng gắt thường xảy ra các bệnh thời khí của tháng 5. Sách thuốc xưa mô tả Thạch xương bồ là “loại cỏ trên đá, một tấc 9 cành, làm thuốc rất hay”. Có lẽ vậy mà ngày Đoan ngọ xưa dân gian đã có tục uống rượu gọi là để diệt trùng bọ ở trong người, nên Tết nầy người Việt đã gọi là “Tết Giết Sâu Bọ”.

Ngày Đoan Ngọ Học trò đi Sêu Tết

Không có mô tả ảnh.

            Hoặc là vào ngày nầy, mọi người thường đi hái lá thuốc về tắm rửa cho thông huyết mạch, tránh cảm mạo trong tiết Đoan dương. Người Việt xưa còn lấy lá ngải bện hình nhân, năm con gì thì bện hình con ấy theo thập nhị chi, hoặc đơn giản treo rổ lá trước cửa để ngăn khí độc vào ngày Đoan ngọ. Kiểu dùng tơ ngũ sắc buộc vào cánh tay, mặc áo dấu, cột chỉ ngũ sắc vào bánh, gọi là dùng cúng cho Khuất Nguyên… chúng vốn là những tập tục được du nhập theo hướng trừ ma, trấn quỷ mang màu sắc tà thần, theo như mô tả của Ức Trai Nguyễn Trãi trong bài thơ Ngày Đoan Ngọ Đoan Ngọ Nhựt :

端午日

闢邪不用絲纏臂

隨俗聊為艾結人

願把蘭湯分四海

從今澡雪舊污民

Trang Thi viện phiên âm:

Tịch tà bất dụng ti triền tý,

Tùy tục liêu vi ngải kết nhân.

Nguyện bả lan thang phân tứ hải,

Tòng kim táo tuyết cựu ô dân.

Tạm hiểu nghĩa:

Không dùng chỉ ngũ sắc buộc ở cánh tay để trừ tà

Tạm lấy lá ngải bện thành hình nhân theo phong tục

Nguyện mang nước thơm mộc lan rải chia bốn biển

Để từ nay rửa sạch cái ô nhục trước đây của tứ dân.

Ngày Đoan Ngọ, người xưa treo rổ lá

Không có mô tả ảnh.

            Tết Đoan ngọ. Xét vào cái thuở mà nước nôi đều trông cậy vào thiên nhiên, kỹ thuật canh tác trông chờ vào mưa nắng… thu được mùa, xuống được giống, sao lại chẳng ăn mừng. Ăn mừng vào mồng 5 tháng 5 âm lịch là Ăn cái Tết giữa năm. Ăn Tết thì đâu chỉ riêng tưởng nhớ người đã trầm mình xuống giòng Mịch La, cũng đâu phải để nhắc đến chuyện mấy anh đi hái thuốc vô tình lạc bước chốn thiên thai. Với giao thoa văn hóa Việt Hoa, những mắm muối ấy chỉ là những gia vị nêm thêm vào món ăn đã sẵn có.

            Theo quan niệm của người xưa, ngày mồng 5 tháng 5 là ngày giết trùng bọ. Với ngày nay, những con sâu con bọ trong tâm, con người nên tự mình giết nó trước đi. ◙

 

 Phan Trường Nghị


Chú Thích:

(1)   Website https://www.dictionary.com/e/october/, Tên gọi October xuất phái từ đâu, ngày 30.9.2021

(2)   Tr 8 Tìm Hiểu Âm Lịch Nước Ta

(3)   Tr 9 Tìm Hiểu Âm Lịch Nước Ta

(4)   Tr 236 Đại Nam nhất thống chí tập IV


Tham Khảo:

+   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, Nxb Thuận Hóa 2006

+   Nguyễn Xiển, Nguyễn Mậu Tùng… Tìm Hiểu Âm Lịch Nước Ta, Nxb Khoa Học Kỹ Thuật 1985

+   Nguyễn Mạnh Linh, Nghiên Cứu Lịch Vạn Niên, Nxb Tự Điển Bách Khoa 2006

 

 

v