Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

TRẦN TỘC QUA TƯỜNG THUẬT CỦA CRISTOFORO BORRI

 

Thành phố Benda trong bản đồ các thừa sai dòng Jésus vẽ năm 1650

            Năm 1631 tại La Mã, Linh mục Cristoforo Borri xuất bản tập Tường Thuật Về Sứ Mạng Mới Của Các Linh Mục Dòng Jésus Tại Vương Quốc An Nam (Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina). Sau đó sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Năm 1931 tập san Đô Thành Hiếu Cổ ở Việt Nam đã cho đăng Tường Thuật của Cristoforo Borri với bản dịch qua tiếng Pháp của Bonifacy. Từ bản tiếng Pháp, nhiều sách Việt ngữ cũng đã xuất bản, nhưng ngôn ngữ dịch không đủ diễn tả hàm nghĩa của sự việc. Nên người đọc không tiếp cận đúng những gì mà Borri mô tả. Thử xét sách gần đây nhứt là Xứ Đàng Trong của Nxb Tổng hợp TpHCM năm 2019:

XÉT TỪ PLAIS ĐƯỢC DỊCH RA VIỆT NGỮ

1)   Trong đoạn mô tả bắt đầu vào địa phận Pulucambi (phủ Quy Nhơn), từ cửa Kim Bồng, các thừa sai lên bờ dùng đường bộ đi đến chỗ làm việc của quan Toàn quyền phủ Quy Nhơn (Le Gouverneur de Pulucambi):

Theo lối đó, chúng tôi đã tới phủ Quy Nhơn; khi chỉ còn lại một ngày đường nữa là tới tư dinh của quan Tuần phủ thì ông lại muốn cho chúng tôi được giải trí nên đổi sang đường bộ, ông lệnh cho người ta mang tới 7 cỗ voi và để tăng thêm phần vinh dự, ông cho 100 người hộ tống, kẻ cưỡi ngựa, kẻ chạy bộ theo đoàn.(1)

    Nguyên văn bản tiếng Pháp: De cette façon nous arrivâmes à la province de Pulucambi; alors qu’il restait encore une journée de chemin avant de joindre le palais du gouverneur, il voulut, pour mieux nous récréer, qu’elle se fît par terre,  et à cet effet, il ordonna qu’on amenât sept éléphants, et pour nous honorer plus encore, il nous fit accompagner de cent hommes, partie à pied, partie à cheval.(2)

            Căn cứ Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ năm 1774 thì le palais du gouverneur là phủ đường của phủ Quy Nhơn, dịch là  tư dinh của quan Tuần phủ, e rằng người đọc sẽ hiểu đây là dinh thự riêng của quan Gouverneur de Pulucambi.

2)  Trong đoạn mô tả các onsaij được đưa tới để làm lễ chiêu hồn cho quan Gouverneur de Pulucambi:

Để hoàn thành một nghi lễ mê tín khác theo phong tục nước này, một vài onsaij biết thuật chiêu hồn được đưa tới dinh thự quan Tuần phủ. Gia quyến cho rằng ai đó nói được những điều bí mật liên quan tới hồn người đã khuất là một ơn huệ lớn.(3)

    Nguyên văn bản tiếng Pháp: Vinrent au palais du gou-verneur certains onsaij qui exercent la négromancie, afin d’accomplir une autre cérémonie. superstitieuse, suivant la coutume du pays. Les parents considèrent comme une grande faveur qu’il y ait quelqu’un qui puisse parler des choses cachées en ce qui concerne l’âme du défunt.(4)

            Theo đoạn văn, chỗ làm lễ chiêu hồn cho quan Gouverneur de Pulucambi cũng là nơi ông mất. Ông mất vì bị cảm nắng khi đi săn. Quan chức xưa đi săn đông đảo binh lính, phải dựng trại để săn tới mấy ngày liền, quan Gouverneur cưỡi Voi đi săn là một chứng cớ. Vậy chỗ ông mất là một dinh trại được dựng lên để đi săn. 

            Tập quán xưa ở Đàng Trong người mất ở ngoài đường, ở bên ngoài kiêng cữ không đưa về nhà, nên đây cũng là nơi làm lễ chiêu hồn cho ông. Khi đưa quan tài ra Chifu (ở thành phố Benda) mai táng, chỗ ông mất, Borri đã ghi nhận: “Le palais dans lequel il était mort demeurant complètement sans habitants, afin qu’il tombe en ruines, sans qu’il en reste aucun vestige”. – Dinh thự nơi quan Tuần phủ qua đời bị bỏ hoang, đổ nát không còn một dấu tích gì. Qua vậy, dinh thự quan Tuần phủ ở những đoạn văn trên đây sẽ làm người đọc hiểu đấy là nhà của quan Gouverneur de Pulucambi. Việt ngữ có từ khác diễn tả không gian ngữ cảnh của plais, phù hợp ở đây là Trại săn.

3)  Trong đoạn mô tả khi đám tang đưa quan tài tới Chifu ở thành phố Benda, bản Việt ngữ trình bày:

+    Khi đám tang tới Chifu, người ta bắt đầu dựng trên một cánh đồng mênh mông một dinh thự không kém phần lộng lẫy so với dinh thự mà quan Tuần phủ đã qua đời. Và để thể hiện sự giàu có của người mất, họ làm cơ man nào là thuyền với những bánh xe cho phép di chuyển trên mặt đất. cũng như vậy họ làm cả voi và ngựa gỗ giống hệt những con vật mà quan Tuần phủ vẫn cưỡi lúc sinh thời.(5)

    Nguyên văn bản tiếng Pháp: Lorsque le cortège fut arrivé à Chifu, tous se mirent à construire, dans un champ spacieux, un autre palais aussi somptueux et magnifique que celui dans lequel était mort le gouverneur, et pour faire montre des grandes richesses du défunt, ils fabriquèrent autant de galères que les terrains pouvaient en contenir, avec des rouesartistiquement faites, au moyen desquelles on les faisait courir sur le sol. Ils firent, de la même façon, des éléphants, des chevaux de bois ayant toute l’apparence des animaux vivants que montait le gouverneur quand il vivait.(6)

            Xét thấy khi di quan ra tới Chifu: người ta bắt đầu dựng trên một cánh đồng mênh mông một dinh thự không kém phần lộng lẫy. Một dinh thự không thể xây dựng được liền, sao nhanh chóng vậy! Xét xem dinh thự đó được dùng vào việc gì: 

Giữa dinh họ dựng một ngôi đền tuyệt tác với bàn thờ rất đẹp, trên đó đặt quan tài được phủ bằng nhiều chữ tượng hình khác nhau, tranh và đồ thủ công khéo léo gây nên sự sùng bái mê tín ở những người ngoại đạo này. Đồng thời trong 3 ngày liên tục họ tiến hành nhiều lễ tế khác nhau, nhiều nghi thức với sự góp mặt của năm, sáu trăm nhà sư.(7)

            Rõ ràng ở đây không phải là dinh thự tráng lệ, mà là kiến trúc tạm bợ được trang trí lộng lẫy bằng đồ hàng mã, có thiết trí đặt bàn thờ (hẳn là bàn vong của người mất), đặt quan tài, và làm chỗ tiến hành các nghi thức lễ tang. Qua vậy, dinh thự không kém phần lộng lẫy nầy Việt ngữ nôm na gọi là Rạp tang lễ mới phù hợp. Vì sau 3 ngày liên tục tiến hành nghi lễ và đãi đằng khách đưa tang, viếng tang tới 2.000 người. Crstoforo Borri ghi nhận dinh thự được thiêu rụi chỉ giữ lại quan tài để mai táng:

+  Ces trois jours finis. on mit le feu à toute cette machinerie, brûlant le palais et le temple avec tous ses ornements et apparats, conservant seulement le cercueil avec le cadavre qui fut ensuite enterré.(8)

     Xong ba ngày đó, người ta châm lửa đốt cả công trình, thiêu rụi dinh thự, đền đài và hết thảy đồ trang trí, hoa văn, chỉ giữ lại quan tài để mai táng.(9)

            Chỉ riêng một từ palais trong tiếng Pháp, Việt ngữ có lắm từ biểu thị trọn vẹn ngữ nghĩa của không gian ngữ cảnh. Tương tự như vậy, với từ Le Gouverneur du Pulucambi trong Tường thuật của Cristoforo Borri được dịch là Quan Trấn thủ Quy Nhơn, hay quan Tuần phủ Quy Nhơn, người đọc dễ hiểu lầm, tin là một Tuần phủ nào đó trong sử Việt. Trong khi Việt ngữ có từ trung tính để dịch cho Le Gouverneur du Pulucambi là người Đứng đầu phủ Quy Nhơn hoặc là người Toàn quyền phủ Quy Nhơn 

Phan Trường Nghị


Chú thích:

(1)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.153

(2)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.349

(3)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.165

(4)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.356

(5)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.356

(6)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.358

(7)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.168

(8)    Tập san Đô Thành Hiếu Cố, số tháng 7-12 1931, tr.359

(9)    Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng Hợp TpHCM 2019, tr.168

 

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

HỌ TRẦN ĐỨC Ở HOÀI NHƠN (2)

 

Cây Da gắn bia lưu niệm họ Trần và các thừa sai ở Nước Mặn

            Họ Trần ở Hoài Nhơn Bình Định đã lâu đời, theo Website Tộc phả thì tính khởi đầu Thủy tổ là Cống quận công Trần Đức Hòa (陳德和), nhưng trước đó 2 đời đã có người trong Tộc họ có tên chép trong sử sách, trong sắc phong, rõ nơi mưu sinh, nơi làm việc… Đó là cha của Trần Đức Hòa, Dương Đàm hầu Phó tướng quân doanh Quảng Nam năm 1694: Trần Ngọc Phân (陳玉芬), và Nội tổ của Trần Đức Hòa là Hương lão làng Bồ Đề: Trần Ngọc Trách (陳玉岝).

II. VỀ TRẦN ĐỨC HÒA

            Trần Đức Hòa là Trưởng nam của Trần Ngọc Phân, căn cứ theo sắc phong ngày 28 tháng 7 năm Chánh Trị thứ 7 tức năm 1564 đời Lê Anh Tông (1558-1571). Nguyên văn sắc phong chép theo Lộc Xuyên Đặng Quý Địch trong Trần Đức Hòa tư liệu, Nxb Văn hóa Dân tộc năm 2004. Đây là sắc phong trao chức Hoằng Tín đại phu cho Trần Đức Hòa, khi Trần Ngọc Phân được phong tước Dương Đàm hầu, Trưởng nam của ông phải được ấm thụ chức Hoằng Tín đại phu:

Ảnh sắc phong chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ Bình Định


Nguyên văn và phiên âm của sắc phong:

行在吏部為恩命事

正治柒年,柒月,十肆日

Hành tại Lại bộ vi ân mệnh sự.

Chánh Trị thất niên, thất nguyệt, thập tứ nhật

行在純信謹禮佐理明義功臣,特進金紫榮祿大夫, 司禮監總太監掌監,兼皇城司掌上林院事安禮侯黎清史,欽奉勅准本部,奉鐱授陳德和,弘信大夫.欽此

Hành tại Thuần tín Cẩn lễ Tá lý Minh nghĩa công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, ty Lễ giám Tổng thái giám Chưởng giám, kiêm Hoàng thành ty Chưởng Thượng lâm viện sự An Lễ hầu Lê Thanh Sử,   Khâm phụng sắc chỉ chuẩn bản bộ phụng kiểm thụ Trần Đức Hòa, Hoằng Tín Đại phu. Khâm thử.

本年月貳十捌日,本部官於行殿門具,晉塡寫官字壹千肆拾捌號半印勘合.付本官執照湏至給憑者

Bổn niên nguyệt nhị, thập bát nhật, bản bộ quan ư Hành điện môn cụ, tấn điền tả quan tự nhất thiên tứ bách nhị thập bát hiệu bán ấn khám hợp. Phó bản quan chấp chiếu, tu chí cấp bằng giả:

陳德和蓬山縣蒲堤社,官員于下班,為特進輔國上將軍錦衣衛,都指揮使司,都指揮使揚潭侯陳玉芬長子.今奉鐱授弘信大夫下班.

Trần Đức Hòa Bồng Sơn huyện Bồ Đề xã, quan viên vu hạ ban, vi Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm Y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân trưởng tử, Kim phụng kiểm thụ Hoằng Tín Đại phu hạ ban.

右給付弘信大夫陳德和

准此

正治柒年, 柒月,

都吏杜子珠承命行在佐理功臣, 特進金紫榮祿大夫

Hữu cấp phó Hoằng Tín Đại phu Trần Đức Hòa.

Chuẩn thử.

Chánh Trị thất niên, thất nguyệt, nhị thập bát nhật

Đô lại Đỗ Tử Châu thừa mệnh hành tại Tá lý công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu

Dịch nghĩa:

Nơi hành tại (ở An Trường, thời nhà Nguyễn thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoa), bộ Lại vâng mệnh ban ân cho quần thần ngày 14 tháng 7 niên hiệu Chánh Trị thứ 7 (năm 1564)

Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu, Thuần Tín Cẩn lễ Minh Nghĩa công thần, chức Chưởng giám Tổng thái giám của ty Lễ giám, kiêm Chưởng viện Thượng Lâm của ty Hoàng Thành là An Lễ hầu Lê Thanh Sử, cung kính phụng mệnh giao chức Hoằng Tín đại phu cho Trần Đức Hòa. Chuẩn y ban bố:

Năm nay tháng 2 ngày 28, quan chức Bộ Lại đã tiến hành soát xét số hiệu 1.428 phù hợp với nửa ấn khám hợp. Nên giao bản quan căn cứ mà ban cho Trần Đức Hòa người xã Bồ Đề huyện Bồng Sơn, là Trưởng nam Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, Đô Chỉ huy sứ vệ Cẩm Y của Đô Chỉ huy sứ ty, hàm Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân. Nay phụng mệnh trao chức Hoằng Tín đại phu thuộc hạ ban.

Trên cấp cho Trần Đức Hòa chức Hoằng Tín đại phu theo đây mà thi hành.

Niên hiệu Chánh Trị thứ 7 (năm 1564) ngày 28 tháng 7

Đô lại Đỗ Tử Châu thừa mệnh làm việc khám hợp

Tạm hiểu sự việc:

            Khám hợp (勘合) là bằng chứng nhận có đánh dấu, được cắt làm hai nửa, người được giao cầm một nửa, quan nha giữ một nửa, để khi khám xét, có thể ráp lại xem đúng số hiệu đánh dấu hay không. Ở đây việc khám hợp từ ngày 14 tháng 7, quan Đô lại Đỗ Tử Châu có nhiệm vụ soát xét số hiệu 1.428 phù hợp với nửa ấn khám hợp trong sổ bộ. Đến ngày 28 tháng 7 xong, Đỗ Tử Châu trình lên Lê Thanh Sử để ban chức Hoằng Tín đại phu thuộc hạ ban cho Trần Đức Hòa. Căn cứ theo Lịch triều Hiến chương loại chí thì Tản chức Hoằng Tín đại phu thuộc hạ ban dự vào hàng Tòng thất phẩm.

            Năm Tân Mùi 1571, Trịnh Tùng được phong Tả tướng Thái úy Trường quốc công. Năm 1572 quân của Mạc Kính Điển xâm lấn Thanh Hoa, Nghệ An, bấy giờ dưới trướng của Trường quốc công có Đô Chỉ huy sứ Thự vệ sự vệ Cẩm Y là Trần Đức Hòa lập được quân công, nên được phong tước hầu là Phước Điền hầu. Đến năm 1585, Trần Đức Hòa được vua Lê Thế Tông (1573-1599) ban cho tước Cống quận công theo sắc phong ngày 12 tháng 6 năm Quang Hưng thứ 8:

Ảnh sắc phong chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ Bình Định

Nguyên văn sắc phong:

特進輔國上將軍錦衣衛都指揮使司,都指揮使署 衛事,福田侯柱國中秩陳徳和,為左相太尉長國公鄭松等類將校從軍有功,有朝臣簽議應(升)郡爵.

可為特進輔國上將軍錦衣衛,都指揮使司,都指揮使 署衛事, 貢郡公柱國上秩. 故勅.

光興八年, 六月,十二日

Phiên âm:

+  Sắc Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Thự vệ sự, Phước Điền hầu Trụ quốc trung trật Trần Đức Hòa, vi Tả tướng Thái úy Trường Quốc công Trịnh Tùng đẳng loại tướng hiệu tòng quân hữu công, hữu triều thần thiêm nghị ứng thăng Quận tước.

Khả vi Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ, Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Thự vệ sự, Cống quận công Trụ quốc thượng trật. Cố sắc.

Quang Hưng bát niên, lục nguyệt, thập nhị nhật

Tạm dịch:

Sắc ban cho Đô chỉ huy sứ Thự vệ sự vệ Cẩm Y của Đô ty, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trụ quốc Trung trật Trần Đức Hòa tước Phước Điền hầu. Trước tòng quân cùng Tả tướng Thái úy Trường Quốc công Trịnh Tùng có công, nay triều thần cùng nhau nghị bàn, đồng lòng thăng tước quận công.

Xứng đáng phong Đô Chỉ huy sứ Thự vệ sự vệ Cẩm Y của Đô ty, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trụ quốc Thượng trật Trần Đức Hòa tước Cống quận công.

Nên có sắc nầy

Ngày 12 tháng 8 năm Quang Hưng thứ 8 (tức năm 1585)

            Như vậy tước Cống quận công của Trần Đức Hòa do triều Lê chúa Trịnh ban cho, không phải là chúa Nguyễn. Hàm Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân của ông giống như cha, ngang hàng Chánh nhất phẩm, nhưng ở đây ông dự Trụ quốc Trung trật thì thuộc hàng Chánh nhị phẩm.

            Hành trạng của Cống quận công được Nam Triều Công nghiệp diễn chí của Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm soạn năm 1719, có ghi nhận khi Nguyễn Hoàng vượt đèo Hải Vân đi vào địa phận phủ Thăng Hoa, Quảng Nam xem xét bình thế núi non các nơi trong xứ.:

Bấy giờ có viên khám lý ở phủ Hoài Nhơn là Cống quận công tìm đến hành dinh của chúa bày tỏ lòng khâm phục, xin được góp sức giúp rập. Đoan vương cả mừng, khoản đãi rất hậu. Rồi đó, Đoan vương Nguyễn Hoàng đem quân trở về.(1) 

            Nam triều Công nghiệp diễn chí chỉ là sách diễn nghĩa, nhưng sau Quốc sử quán triều Nguyễn có căn cứ ở đây mà biên soạn các bộ sử. Đại nam thực lục tiền biên chép việc Cống quận công yết kiến Nguyễn Hoàng năm 1602 ở Quảng Nam là theo Nam triều Công nghiệp diễn chí. Sách của Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm còn kể rõ việc Cống quận công Trần Đức Hòa tiến cử Đào Duy Từ lên chúa Sãi năm Đinh Mão 1627. Nhưng Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn đời Tự Đức (soạn xong năm 1883) hệ thống việc tiến cử lại xảy ra vào năm Hy Tông thứ 11 tức năm 1623:

Năm Hy Tông thứ 11 (1623) Đức Hòa vào chầu, tiến cử Duy Từ, Hy Tông cho triệu vào trao chức vệ úy Nội tán.(2)

            Khi Cống quận công mất, dân lập đền thờ. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Trăn (con chúa Nguyễn Phúc Tần), Trịnh Nguyễn đã yên cương vực Bắc Nam, Đàng Trong vẫn dùng niên hiệu của vua Lê, nhưng chúa Nguyễn sắc ban cho ông thần hiệu là Phù Vận chi thần (符運 之神), theo Sắc ban ngày 6 tháng 6 năm Chánh Hòa thứ 10 (tức năm 1689) mà họ tộc Trần Đức còn lưu giữ. Nguyên sắc phong bị tàn khuyết 1 dòng, còn sót lại:

Ảnh sắc phong chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ Bình Định


陳承賜姓阮貴公, 諡純正府君. 楅國惠民前所禱祈.屡有靈應

當今光登寶位,嗣守鴻圖,廣施𥘉政,宏規,宜贈尊神顯號.

可加封廣南處正勘理,貢郡公陳承賜姓阮貴公,諡純正府君符運之神,以報盛徳者

右箚贈:廣南處正勘理,貢郡公陳承賜姓阮貴公,諡純正府君符運之神. 准此.

正和拾年, 陸月初陸日

對同勾𥡞兼知簿 陳廷恩

Phiên âm:

Trần thừa tứ tánh Nguyễn Quý công, thụy Thuần Chánh phủ quân. Năng phúc quốc huệ dân tiền sở đảo kỳ, lũ hữu linh ứng.

Đương kim quang đăng bảo vị tự thủ hồng đồ, quảng thi sơ chánh, hoằng quy. Nghi tặng tôn thần hiển hiệu.

Khả gia phong Quảng Nam xứ Chánh khám lý, Cống quận công Trần thừa tứ tánh Nguyễn Quý công thụy Thuần Chánh phủ quân Phù Vận chi thần dĩ báo thịnh đức giả.

Hữu tráp tặng Quảng Nam xứ Chánh khám lý, Cống quận công Trần thừa tứ tánh Nguyễn Quý công thụy Thuần Chánh phủ quân Phù Vận chi thần.

Chuẩn thứ

Chánh Hòa thập niên, lục nguyệt, sơ lục nhật.

Đối đồng Câu kê kiêm Tri bạ Trần Đình Ân.

Tạm dịch:

Họ Trần vâng theo quốc tánh Nguyễn quý công, tên thụy là Thuần Chánh phủ quân. Thần có khả năng giúp nước giúp dân, trước đã nhiều lần cầu đảo thấy có linh ứng.

Hiện đang ngôi báu nối giữ nghiệp lớn, rộng ban pháp chính ban đầu đặt khuôn phép lớn, nên ban tặng tôn hiệu cao quý cho thần. Chánh khám lý xứ Quảng Nam, tước Cống quận công họ Trần vâng theo quốc tánh Nguyễn quý công, tên thụy là Thuần Chánh phủ quân xứng phong là Phù Vận chi thần để báo đáp đức lớn của thần.

Nay trên ban tặng Chánh khám lý xứ Quảng Nam, tước Cống quận công họ Trần vâng theo quốc tánh Nguyễn quý công, tên thụy là Thuần Chánh phủ quân là thần Phù Vận.

Hãy vâng theo sắc nầy.

Ngày mồng 6 tháng 6 niên hiệu Chánh Hòa thứ 10 (năm 1698)

Trần Đình Ân, chức Câu kê kiêm Tri bạ đã đối chiếu sổ bộ

            Qua sắc phong ban thần hiệu Phù Vận chi thần. Xét thấy chúa Nguyễn thừa nhận tước Cống quận công mà triều Lê Trịnh đã ban cho Trần Đức Hòa, lại còn ban họ Nguyễn là họ của chúa cho Cống quận công. Sách sử của Quốc sử quán triều Nguyễn đều ghi chép công trạng của ông ở Đàng Trong. Đại Nam liệt truyện còn cho biết: Con của ông là Đức Nghi, thời chúa Nguyễn Phúc Tần làm Phó Đề đốc phủ Quy Ninh (phủ Quy Ninh đến thời Phúc Khoát cải lại làm phủ Hoài Nhơn). 


Phan Trường Nghị


Chú thích:

(1) Nam triều Công nghiệp diễn chí, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp 1990 pdf, tr 26

(2) Đại Nam nhất thống chí, tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 60

.

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

HỌ TRẦN ĐỨC Ở HOÀI NHƠN

 


            Họ Trần ở Hoài Nhơn Bình Định đã lâu đời, theo Website Tộc phả thì tính khởi đầu Thủy tổ là Cống quận công Trần Đức Hòa ( 陳德和 ), nhưng trước đó 2 đời đã có người trong Tộc họ có tên chép trong sử sách, trong sắc phong, rõ nơi mưu sinh, nơi làm việc… Đó là cha của Trần Đức Hòa, Dương Đàm hầu Phó tướng quân doanh Quảng Nam năm 1694: Trần Ngọc Phân ( 陳玉芬 ), và Nội tổ của Trần Đức Hòa là Hương lão làng Bồ Đề: Trần Ngọc Trách ( 陳玉岝 ).

I._ VỀ TRẦN NGỌC PHÂN

            Trần Ngọc Phân và Trần Đức Hòa có tên trong sử sách là theo Đại Nam thực lục tiền biên chép, khi Nguyễn Hoàng về Thuận Hóa không ra kinh đô nữa, năm 1602 vượt Hải Vân vào Quảng Nam:

Bây giờ khám lý phủ Hoài Nhân (nay thuộc Bình Định) là Trần Đức Hòa (bấy giờ gọi là Cống quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến, chúa đãi rất hậu. Rồi trở về Thuận Hóa.(1)

            Căn cứ các sắc phong mà họ Trần Đức ở Hoài Nhơn còn lưu giữ được, như các sắc ngày 28 tháng 7 niên hiệu Chánh Trị thứ 7 (năm 1564):

+  Sắc ban cho Trưởng Nam của Trần Ngọc Phân là Trần Đức Hòa được chức Hoằng Tín đại phu

+  Sắc ban cho Vợ của Trần Ngọc Phân là Nguyễn Thị Ngọc (阮氏玉) được tước phẩm Dương Đàm Chánh phu nhơn. Dương Đàm Chánh phu nhơn là theo tước Dương Đàm hầu của chồng.

+  Sắc ban cho Mẹ của Trần Ngọc Phân là Bùi Thị Phần (裴氏蕡) được tước phẩm Huệ Trung bá Tự phu nhơn. Huệ Trung bá Tự phu nhơn là theo tước Huệ Trung bá của chồng.

            Từ đây thấy được Trần Ngọc Phân được ban tước Dương Đàm hầu vào năm Chánh Trị thứ 7 (năm 1564), đời vua Lê Anh Tông (1558-1571). Thời nhà Lê, khi người có công được phong tước, Cha mẹ Vợ con của họ cũng được nhận tước hàm. Điển lệ ấm phong của triều Lê được Phan Huy Chú ghi nhận trong Lịch Triều hiến chương loại chí: (2)

+ Người được Quận công thì Cha và Ông đều được phong hầu, Mẹ và Bà đều được phong Chánh phu nhân, Vợ được phong Quận phu nhân, Con trưởng được phong Triều Liệt đại phu, Các con khác là Hoằng Tín đại phu, Cháu trưởng được Hiển Cung đại phu

+  Người được tước hầu: Cha và Ông đều được phong tước Bá, Mẹ và Bà đều được phong Tự phu nhơn, Vợ được phong Chánh phu nhơn, Con trưởng được phong Hoằng Tín đại phu, Các con khác được Hiển Cung đại phu, Cháu trưởng được Mậu Lâm lang.

            Cha mẹ của Trần Ngọc Phân được tước Huệ Trung bá (惠忠伯), Mẹ được tước phẩm Tự phu nhơn (序夫人), Vợ Trần Ngọc Phân được Chánh phu nhơn (正夫人)… Xem vậy thời Lê Trung Hưng (1533-1789) vẫn dùng theo Điển lệ đời Hồng Đức thời Lê.

            Khảo sát một sắc phong ngày 28 tháng 7 năm Chánh Trị thứ 7 (tức năm 1564) để nhận diện chức vụ, phẩm hàm của Trần Ngọc Phân, là sắc ban cho Vợ là Nguyễn Thị Ngọc được phẩm Chánh phu nhơn.

Ảnh sắc phong được chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ Lịch sử Bình Định


Nguyên văn sắc phong:

勅蓬山縣,蒲堤社阮氏玉,為特進輔國上將軍,錦衣衛都指揮使司,都指揮使揚潭侯陳玉芬妻.可封揚潭正夫人.故勅

正治七年,七月, 二十八日

Phiên âm:

+  Sắc Bồng Sơn huyện, Bồ Đề xã Nguyễn Thị Ngọc, vi Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân thê. Khả phong Dương Đàm Chánh phu nhân. Cố sắc.

     Chánh Trị thất niên, thất nguyệt, nhị thập bát nhật

Tạm dịch:

+  Sắc ban Nguyễn Thị Ngọc ở xã Bồ Đề huyện Bồng Sơn, là vợ của Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trần Ngọc Phân, chức Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, tước Dương Đàm hầu.

    Xứng phong Dương Đàm Chánh phu nhân. Nên có sắc này.

     Niên hiệu Chánh Trị thứ 7, ngày 28, tháng 7

            Từ đây biết được Trần Ngọc Phân được phong Dương Đàm hầu là có quân công khi là Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty.

            Đô chỉ huy sứ ty còn gọi tắt là Đô ty, gọi theo 3 ty Đô, Thừa, Hiến đời Hồng Đức. Đô Tổng binh sứ ty coi việc binh chính, Thừa chính sứ ty giữ sổ sách quân và dân, Hiến sát sứ ty giữ việc tâu bày những lời nói phải, đàn hặc tội lỗi của quan lại và thẩm xét tra hỏi việc hình ngục. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc sử quán triều Nguyễn trình bày 8 chức của 3 ty Đô, Thừa, Hiến thời Lê Trung Hưng: (3)

-   Đô Tổng binh sứ ty, đặt 3 chức: Tổng binh sứ (總兵使), Tổng binh Đồng tri (總兵同) và Tổng binh Thiêm sự (總兵僉事).

-   Tản trị Thừa chính sứ ty, 3 chức Thừa chính sứ, Tham chính và Tham nghị.

-   Thanh hình Hiến sát sứ ty, đặt chức Hiến sát sứ, và Hiến sát phó sứ.

1) Trần Ngọc Phân nắm vệ Cẩm Y vào năm nào

            Theo Lịch triều Hiến Chương loại chí của Phan Huy Chú, niên hiệu Thiên Hựu (1556-1557) đời Lê Anh Tông, người nắm vệ Cẩm Y là Đô chỉ huy sứ Hoàng Đình Ái. Năm 1558 ông đánh với giặc nhiều trận ác liệt ở bến đò Lục, Hoàng Giang; ông đều có công tiến lên trước. Năm 1559 ông được tước Vinh quận công, bấy giờ 32 tuổi. Ít lâu sau vâng mệnh làm Tiên phong đem quân đánh Mạc, do đường Thiên Quan ra Mỹ Lương, Bất Bạt.(4)

            Hoàng Đình Ái làm Tiên phong theo Trịnh Kiểm ra Bắc, có lẽ lúc nầy vệ Cẩm Y được Trần Ngọc Phân tiếp nhận. Cẩm Y vệ là lực lượng bảo vệ Vua và triều thần. Ở hành tại An Trường, (thời nhà Nguyễn, An Trường thuộc Thụy Nguyên phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoa) Trần Ngọc Phân chắc có quân công nên mới được tước Dương Đàm hầu, vì vậy có săc năm 1564 ban cho Cha mẹ Vợ con được nhận phẩm hàm. Vậy có thể xác định năm Trần Ngọc Phân nhận chức Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y là năm thay cho Vinh quận công Hoàng Đình Ái.

2) Trần Ngọc Phân được phong Phó tướng vào năm nào

            Các sắc phong mà Họ tộc Trần Đức ở Hoài Nhơn còn lưu giữ, có Sắc ngày 16 tháng 5 năm Quang Hưng thứ 17 tức năm 1594, là Sắc phong vua Lê cho ông đảm nhiệm chức Phó tướng của quân doanh Quảng Nam.

Ảnh sắc phong được chụp lại từ Trung tâm Lưu trữ Lịch sử Bình Định


            Nguyên văn sắc phong có 12 dòng, qua thời gian bị mòn khuyết 7 chữ cuối ở 7 dòng đầu. Lộc Xuyên Đặng Quý Địch đã xét vết tích tự dạng còn sót lại, đề nghị điền thay những chữ bị mòn khuyết thành bản sắc phong hoàn chỉnh. Ông phiên âm và dịch nghĩa trong tập Trần Đức Hòa Tư Liệu, Nxb Văn hóa Dân tộc năm 2004.

            Tiếp nhận 7 chữ điền khuyết của Lộc Xuyên, chỉ thay thế chữ Ngư () ở cuối dòng thứ 5 bằng chữ Di (), vì cùng có dạng nháy Cá ở trên đầu như vết tích của sắc phong. Nhưng chữ ()thể hiện rõ nhiệm vụ của chức Đô Tổng binh Thiêm sự của Trần Ngọc Phân hơn là chữ Ngư ().

Từ đây có Nguyên văn của sắc phong:

勅廣南處,都緫兵使司都緫兵僉事,鎮邉營副將楊潭侯.

陳貴府丈夫,資格國士風流.緫兵戎邉境立功趙邉良將.控夤面捍留禦患,越甸福神.蕩平黙相於威灵,尊奬載加於禮數.

可加封:廣南處,都緫兵使司都緫兵僉事,鎮邉營副將楊潭侯果毅陳貴府.故勅

光興十七年, 五月,十六日

Phiên âm:

Sắc Quảng Nam xứ,  Đô Tổng binh sứ ty Đô Tổng binh Thiêm sự, Trấn biên doanh Phó tướng Dương Đàm hầu.

Trần quý phủ trượng phu, tư cách quốc sĩ phong lưu.  Tổng binh nhung biên cảnh lập công Triệu biên lương tướng. Khống di diện hãn lưu ngự hoạn Việt điện phúc (thần). Đãng bình mặc tương ư oai linh. Tôn (tưởng) tái gia ư lễ số.

Khả gia phong Quảng Nam xứ, Đô Tổng binh sứ ty Đô Tổng binh Thiêm sự, Trấn biên doanh Phó tướng Dương Đàm hầu Quả Nghị Trần quý phủ. Cố sắc.

Quang Hưng thập thất niên, ngũ nguyệt, thập lục nhật

Tạm dịch:

+  Sắc ban cho Dương Đàm hầu, Phó tướng chỉ huy quân doanh Trấn biên (doanh Quảng Nam) tước Dương Đàm hầu, từng giữ chức Đô Tổng binh Thiêm sự ở Đô Tổng binh sứ ty, xứ Quảng Nam.

Trần quý phủ cốt cách trượng phu phong thái quốc sĩ. Nắm binh nhung ngoài biên cương phá giặc lập công như tướng rường cột của nước Triệu. Khống chế thuộc lại ăn của đút lót để ngăn mầm họa giữ thần khí phúc lành đất Việt. Là người trầm mặc, ít lời nhưng linh hoạt oai phong bình trị, phải gia thêm tưởng thưởng.

Nay gia phong Trần quý phủ nguyên là Đô Tổng binh Thiêm sự ở Đô Tổng binh sứ ty xứ Quảng Nam, tước Dương Đàm hầu. Xứng đáng tôn hiệu Quả cảm Cương nghị, chức Phó tướng dinh Trấn biên.

Cho nên có sắc mệnh nầy.

Niên hiệu Quang Hưng thứ 17 (năm 1594), ngày 16, tháng 5.

            Xét thấy Trần Ngọc Phân trước khi được phong Phó tướng năm 1594, ông từng giữ chức Đô Tổng binh Thiêm sự của Đô ty nữa. Tức trong thời gian từ năm 1564-1594, quãng thời gian này, Đại Việt Sử ký toàn thư chép ở xứ Quảng Nam Nguyễn Hoàng phải đương cự với Mỹ quận công theo nhà Mạc, rồi các thổ tướng trong xứ thôn tính lẫn nhau, tướng Lập Bạo ở Hải Dương lại đem thuyền vượt biển vào cướp phá, người địa phương nhiều người đầu hàng…

            Quảng Nam được ổn định, có phần nào nhờ vào cương lĩnh của Đô Tổng binh Thiêm sự, là tướng cũng xông pha trận mạc ngoài biên cương, trong trướng thì nắm pháp chế thăng thưởng công lao tướng sĩ, trừng phạt những kẻ 2 lòng. Trần Ngọc Phân thực thi đúng nhiệm vụ Đô tổng binh Thiêm sự như sắc phong đã ghi nhận.

            Tháng Tư năm 1593, vua Lê Thế Tông (1578-1599) ngự giữa Thăng Long, nhận lễ của bá quan mừng chiến thắng nhà Mạc, đã về được kinh đô. Vua đại xá cả nước, ban thưởng các quan. Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, vua đã xét công, gia phong cho:

Hoàng Đình Ái làm hữu tướng thái úy, Vinh quốc công;

Nguyễn Hữu Liêu làm thái úy, Dương quốc công;

Quận công Trịnh Đỗ làm thái phó;

Trịnh Đồng và Trịnh Nành làm thái bảo;

Lê Bách và Hà Thọ Lộc làm thiếu úy;

Ngô Cảnh Hựu và Trịnh Văn Hải làm thiếu bảo;

Lại bộ thượng thư Nguyễn Mậu Tuyên làm thiếu phó Quỳnh quận công.

Những người còn lại đều được gia thăng chức tước theo thứ bậc khác nhau.

            Tháng 5, Thái phó Đoan quận công Nguyễn Hoàng từ Thuận Hoá đích thân đem tướng sĩ, voi ngựa, thuyền ghe về Kinh lạy chào, đem sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam dâng nộp.(5)

            Tiết chế Trịnh Tùng dâng biểu tâu cho Nguyễn Hoàng làm Trung quân đô đốc phủ Tả đô đốc, Chưởng phủ sự Thái úy Đoan quốc công, sai làm Tổng đốc tướng sĩ bản dinh và thống lĩnh 300 chiếc thuyền lớn nhỏ của thủy quân các xứ Nam đạo, đi đánh giặc biển, tàn quân Mạc ở các xứ Sơn Nam, Hải Dương. Thâm tâm của Trịnh Tùng là không muốn cho Nguyễn Hoàng về Nam. Bấy giờ Quảng Nam vắng chủ, có lẽ Nguyễn Hoàng đã cầu xin vua, cũng có lẽ được Hoàng Đình Ái thêm vào, nên Trần Ngọc Phân được sắc phong Phó tướng quân doanh Quảng Nam.

3) Trần Ngọc Phân được phong thần năm 1689

            Khi ông mất được dân lập đền thờ. Năm 1689 đời chúa Nguyễn Phúc Thái, còn gọi là Phúc Trăn, là vị chúa ở ngôi có 4 năm nhưng tính tình bao dung, nhẹ hình phạt, giảm sưu thuế, nên đương thời được gọi là Chúa Nghĩa; chúa xét thấy đền thờ của Trần Ngọc Phân nhiều lần cầu đảo linh ứng, lúc còn sống có nhiều công trạng nên sắc ban cho ông là Phu Nghĩa chi thần (敷義之神), là vị thần trải ban Nghĩa khí giúp nước giúp dân.

            Sắc phong Phu Nghĩa chi thần, họ tộc Trần Đức nay còn lưu giữ.



Nguyên văn sắc phong chép lại sưu tập của Lộc Xuyên Đặng Quý Địch trong Trần Đức Hòa tư liệu:

勅旨各處水步諸営, 為加封靈神事. 照得錦衣衞

都指揮使司,都指揮使都佥事,陳貴公之神.能福

國惠民, 前所禱祈,屢有靈應.

當今光登寶位,嗣守 鴻圖,廣施𥘉政,宏規,宜贈尊

神顯號. 可加封: 錦衣衞都指揮使司, 都指揮使

都佥事,陳貴公敷義之神, 以報盛徳者.

右箚贈: 錦衣衞都指揮使司, 都指揮使都佥事,

陳貴公敷義之神. 

准此.

正和拾年,陸月,初陸日 

對同勾𥡞兼知簿 陳廷恩

Phiên âm:

Sắc chỉ các xứ thủy bộ chư doanh, vi gia phong linh thần sự. Chiếu đắc Cẩm Y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Trần quý công chi thần. Năng phúc quốc huệ dân, tiền sở đảo kỳ, lũ hữu linh ứng.

Đương kim quang đăng bảo vị, tự thủ hồng đồ. Quảng thi sơ chánh hoằng quy, nghi tặng tôn thần hiển hiệu. Khả gia phong: Cẩm Y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Trần quý công Phu Nghĩa chi thần, dĩ báo thịnh đức giả.

Hữu tráp tặng: Cẩm Y vệ Đô Chỉ huy sứ ty, Đô Chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Trần quý công Phu Nghĩa chi thần. Chuẩn thử.

Chánh Hòa thập niên, lục nguyệt, sơ lục nhật.

Đối đồng Câu kê kiêm Tri bạ Trần Đình Ân.

Tạm dịch:

+  Sắc truyền cho các xứ, các quân doanh thủy bộ biết việc gia phong vị thần linh.

Đối chiếu xét thấy vị thần họ Trần, vốn người tôn quý, từng giữ chức Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, chức Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự, Thần có khả năng giúp nước giúp dân, trước đã nhiều lần cầu đảo thấy có linh ứng.

Nay đang ngôi báu nối giữ nghiệp lớn, rộng ban pháp chính ban đầu đặt khuôn phép lớn, nên ban tặng tôn hiệu cao quý cho thần. Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự họ Trần xứng phong là Phu Nghĩa chi thần để báo đáp đức lớn của thần.

Nay trên ban tặng Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y của Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự Trần quý công là thần Phu Nghĩa.

Chuẩn y như vậy.

Ngày mồng 6 tháng 6 niên hiệu Chánh Hòa thứ 10 (năm 1698)

Trần Đình Ân, chức Câu kê kiêm Tri bạ đã đối chiếu sổ bộ

            Sắc phong cho một nhân vật, nó là cứ liệu đáng tin cậy nhứt để xét hành trạng nhân vật đó trong lịch sử, bổ sung cho lịch sử những sự kiện còn thiếu sót. Con của Trần Ngọc Phân là Trần Đức Hòa được các quan viết sử ghi nhận công trạng, như tiến cử Đào Duy Từ lên chúa Sãi, từ đó Bắc cự chúa Trịnh, Nam mở rộng phên giậu. Nên gần như hành trạng của Trần Ngọc Phân không được để tâm đến, trong khi đó buổi đầu gầy dựng được cơ nghiệp, người huyện Bồng Sơn đụng lắm chiến trận, đâu dễ dàng gì! Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng từng lơ là nhân vật Lương Văn Chánh ở huyện Tuy Viễn!? Những quan viết sử ngày xưa cũng khó khổ lắm thay! ◙

Phan Trường Nghị

 

Chú thích:

(1) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 pdf, tr 39

(2) Lịch triều Hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục 2005 pdf, tr 634

(3) Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Nxb , tr 527

(4) Lịch triều Hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục 2005 pdf, tr 405

(5) Đại Việt Sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội 1993 bản pdf, tr 1296