Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

HÒN ĐÁ CHÉM Ở CHÙA THẬP THÁP

 VÀ THÀNH BÌNH ĐỊNH NĂM 1800

Ngọn quang minh hun mát tấm trung can


          Chùa Thập Tháp ở phía Bắc thành Đồ Bàn, thuộc thôn Vạn Thuận phường An Nhơn Bắc của Gia Lai ngày nay, xưa là thôn Vạn Thạch và Thuận Chánh ghép lại. Chùa lập năm Quý Hợi 1683 thời chúa Nguyễn Phúc Tần, do hòa thượng Hoán Bích người Hoa dựng, còn gọi là ngài Nguyên Thiều. Năm Tân Mùi 1691, chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho biển ngạch đề Thập Tháp Di Đà Tự (什塔彌陀寺), vì sau chùa có 10 tháp của Chiêm Thành nên đặt tên ấy. Năm Minh Mạng lên ngôi, nhà sư Mật Hoằng ra công trùng tu, từ đó chùa Thập Tháp là danh lam của đất Bình Định.

1)._ Truyền thuyết Hòn đá chém

          Hiện ở bậc tam cấp bước lên phương trượng của chùa, có hòn đá trắng đẽo gọt vuông vức 1,5m x 1,3m x 0,4m được gọi tên là Hòn Đá Chém. Dân gian thêu dệt chuyện kể chung quanh hòn đá khá là huyễn hoặc, hoang đường. Chuyện kể rằng:

+  Tương truyền, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm thành Hoàng Đế, liền sau đó, Nguyễn Ánh mở cuộc trả thù tàn khốc, nơi máu đổ đầu rơi nhiều nhất chính là chốn kinh đô xưa, thành Hoàng Đế. Lúc ấy, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù, ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới, ai có tài sẽ được trọng dụng. Để tránh phải sống chui lủi “ngoài vòng pháp luật”, rất đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện.  

    Sau đó Nguyễn Ánh trở mặt làm trái, mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé rồi chôn tập thể. Đao phủ của Nguyễn Ánh dùng một tảng đá đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, kê đầu nạn nhân lên đó mà chém. Hàng trăm đầu người lăn lóc trên hòn đá này, máu tràn ra hết lớp này đến lớp khác đao phủ không màng đến việc lau chùi.(1)

          Không những vậy, dân gian còn truyền tụng “hằng đêm, người ta nghe trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, tỏ bày nỗi oan khuất, đau đớn của con người.” Sư Phước Huệ (1869 – 1945) trụ trì chùa, truyền mang hòn đá về cửa thiền từ đó các vong hồn được khuây khỏa dần.

          Nghĩ cho cùng, chuyện huyễn hoặc không đáng tin là có, mà cũng chưa hẳn nên gọi là không. Truyền thuyết thường mang tính huyễn hoặc, nhưng nó cũng thường ẩn chứa bên trong nghi án của lịch sử.

          Chỉ vì lời truyền thêu dệt tầng tầng lớp lớp lâu ngày, mà thành chuyện trở nên hoang đường lệch lạc. Chỉ cần hiểu được: Truyền thuyết Hòn đá chém liên quan đến việc chém giết quá nhiều người. Đá kia là vật vô tri mà còn oán hờn than khóc huống chi là con người.

          Thử tìm sự kiện lịch sử nào đã khiến người Bình Định ai oán khóc than!

Hòn đá chém ở bậc tam cấp

 2. Chiến trận thành Bình Định năm Canh Thân 1800

          Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1799 quân Gia Định chiếm được thành Quy Nhơn, là thành Hoàng đế của nhà Tây Sơn. Nguyễn vương Phúc Ánh cho cải tên thành nầy làm thành Bình Định, mang nghĩa là đã bình trị, dẹp yên. Danh xưng Bình Định khởi phát từ đây để chỉ cho vùng đất từ đèo Bình Đê đến đèo Cù Mông. Theo gió mùa rút về Nam, Nguyễn Ánh lưu chưởng Hậu quân Võ Tánh cùng Lễ bộ Thượng thư Ngô Tùng Châu trấn giữ thành Bình Định. Quân binh dưới sự điều bát của Võ Tánh ngoài Hậu quân dưới quyền gồm cả tướng sĩ vệ Võ Lương Trung chi Hữu quân, đội Thuộc viên Trung chi Tiền quân, Tả chi Túc Uy dinh Tiên phong, hai vệ Thiên Trường và Tín Trực, cộng với một vạn quân Xiêm (đúng hơn là quân Chân Lạp).(2)

          Ngoài ra còn có Trung, Tiền và Hậu Đồn của binh chủng Ngũ đồn Ngự lâm quân, Tả đồn và Hữu đồn đang ở trong Gia Định. Ngũ đồn quân Ngự Lâm do Nguyễn vương Phúc Ánh lập vào tháng 8 năm 1799. Lính là dân binh 3 huyện ở Bình Định, tướng lĩnh chỉ huy là hàng tướng Tây Sơn mới theo về với quân Gia Định hay từ trước. Nguyễn vương lập Ngũ Đồn Ngự lâm quân theo mô hình binh chủng Thần Sách quân đã xây dựng ở Gia Định. Lấy phiên hiệu là Ngự lâm quân, Nguyễn Ánh áp đặt tự kỷ ám thị vào binh lính, xem đây là lính của vua Thái Đức, đánh binh Phú Xuân của Quang Toản trả thù cho vua Thái Đức.

          Tháng Giêng năm 1800, bộ binh của Trần Quang Diệu từ Phú Xuân vào đắp lũy vây chặt thành Bình Định tới mấy lớp, thủy binh của Võ Văn Dũng án ngữ cửa Thị Nại chặn quân cứu viện. Được tin báo, Nguyễn vương bảo với các tướng:

+  Lương thực trong thành Bình Định đủ chi dùng một năm, đợi Xuân sang năm thuận gió sẽ đem quân cứu, cũng chưa muộn.(3)

          Nguyễn Ánh tin tưởng vào bố trí binh lực của mình, dựa vào lương thực đã thu chứa được ở thành Bình Định năm 1799 trước khi về Nam. Nhưng sự biến của chiến trường làm sao lường hết được. Hàng tướng Phạm Văn Điềm ở Phú Yên đã gây khốn đốn cho quân Nam,(4) đánh úp binh Phú Yên đang chở tiền lương ra Bình Định, lưu thủ Phú Yên không biết sống chết thế nào. Phạm Văn Điềm liên kết với quân Tây Sơn chiếm giữ Phú Yên không cho viện binh Diên Khánh tiến ra. Nguyễn Ánh bấy giờ vẫn điềm nhiên: “Nay trong thành quân tinh lương đủ, có Võ Tánh ở đó, có thể giữ được không lo”.

          Nhưng sang tháng 4 năm 1800 ở thành Bình Định lại xảy ra sự biến:

+  Bọn hàng tướng ở thành Bình Định là Trưởng chi Trung chi Hậu đồn quân Ngự lâm Võ Văn Sự và Trưởng chi Hữu chi Nguyễn Bá Phong đem đồ đảng làm phản, giết quân ta, mở cửa thành phía Bắc để đầu hàng giặc.(5)

          Lúc nầy Nguyễn Ánh mới cử đại binh ra Quy Nhơn, lưu Đông cung Cảnh ở lại giữ Gia Định. Sự biến Hậu đồn Ngự lâm quân làm phản, mở cửa thành phía Bắc để về với Tây Sơn làm Nguyễn vương phải xuất quân. Không gọi đây là sự biến, mà phải gọi là binh biến mới hợp với bối cảnh lịch sử đương thời. Lính làm binh biến không phải làm phản, họ chạy về phía Trần Quang Diệu vì họ vốn là người đất Bình Định Tây Sơn. Ngày xưa với chiến tranh, ai cũng đều vì chủ nấy. Ngũ đồn Ngự lâm quân lập chỉ mới mấy tháng, binh lính quay về với Tây Sơn là điều không đáng để trách cứ. Huống hồ việc làm binh biến của Hậu đồn là đã có sự chuẩn bị của tướng lãnh cấp cao.

          Theo lá thư của giáo sĩ Longer gửi ngày 04.9.1801 cho 2 giáo sĩ Boiret và Descourvières, thư cho biết Trần Quang Diệu đem binh vào Bình Định phong tỏa thành với hy vọng chiếm được nhờ vào một cuộc nội phản ở đây:

+  Tháng Giêng năm 1800, một trong hai tướng kể trên dẫn một đạo bộ quân hùng hậu vào cố đoạt lại thành Qui phủ. Có kẻ nội phản đã mở cho tướng ấy một lối đi và sau khi lọt được vào tỉnh Qui Nhơn, tướng ấy bèn phong tỏa thành Qui phủ và hy vọng chiếm được nhờ vào cuộc nội phản mới.(6)

          Sự chuẩn bị binh biến không phải ở Trưởng chi Trung chi Võ Văn Sự cùng Trưởng chi Hữu chi Nguyễn Bá Phong của Hậu đồn, mà phải ở cấp cao hơn. Liên lạc được với Trần Quang Diệu khi vào Bình Định, thì chỉ có vai trò của Đô Thống chế và Phó Thống chế Hậu đồn mà thôi. Lúc mới thành lập Ngũ đồn, Đô Thống chế Hậu đồn là Vệ úy vệ Diệu Võ của Thần Sách quân Nguyễn Văn Phát người Phù Ly, còn Phó Thống chế là Đô đốc Hồ Văn Viện mới theo về với quân Gia Định năm 1799.

          Tháng 9 năm Kỷ Mùi 1799, Phó Thống chế Hồ Văn Viện xin lập 3 đội Chiến Võ quân Lạc tòng, thu gom những chiến binh lưu lạc không sổ sách gọi là vui vẻ theo về với quân ngũ.(7) Rồi Đô Thống chế Hậu đồn Nguyễn Văn Phát và Tham tri bộ Binh Hồ Văn Định đều bị miễn chức, cũng vì nhập nhằng sổ sách của Chiến Võ quân Lạc tòng và lính trốn trong quân. Nguyễn Ánh điều Thống chế Trung Đồn là Hoàng Công Thành sang quản lãnh Hậu Đồn.(8) Sau Hoàng Công Thành chết trong quân thứ, được thờ ở thành Bình Định cùng với Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Còn Phó Thống chế Hồ Văn Viện sau vụ thành lập Chiến Võ quân Lạc tòng, không thấy chép trong Thực lục nữa. Nhưng người chỉ huy binh biến ở thành Bình Định tháng 4 năm Canh Thân 1800, đồ rằng không ai khác hơn là Đô đốc Phó Thống chế Hồ Văn Viện.

          Binh biến của Hậu đồn không thành, Võ Tánh đã ngăn chặn được. Theo Đại Nam thực lục, nhờ Vệ úy vệ Nhuệ Phong là Ngô Văn Sở đã liều chết chiếm giữ cửa:

+  Võ Tánh sai Vệ úy vệ Nhuệ Phong là Ngô Văn Sở chiếm giữ cửa, bọn quân phản đã ra trước ngoài thành hơn 400 người, còn dư thì không dám ra. Tánh liền xét bọn đồng mưu đem giết hết, phòng giữ nghiêm mật hơn.(9)

          Võ Tánh liền xét bọn đồng mưu đem giết hết. Theo Hoàng Việt hưng long chí của Ngô Giáp Đậu, một tác gia của Ngô Gia văn phái biên soạn năm 1904 thì cũng cho rằng số quân gây biến còn lại trong thành bị Võ Tánh đem giết cả:

+ “Phe đảng của Bá Phong lúc ấy đã lọt ra ngoài hơn bốn trăm người. Số còn lại ở trong thành không dám động đậy. Võ Tánh lo bọn họ sẽ lại làm phản, bèn ra lệnh đem giết cả.(10)

          Còn thư của giáo sĩ Longer gởi Boiret và Descourvières ngày 4.9.1801, cho thấy rõ hơn con số binh lính gây biến còn ở trong thành bị Võ Tánh đem ra hành quyết:

+ May thay tướng giữ thành vốn là một người can trường và trước kia đã cầm cự nổi một cuộc bao vây kéo dài từ 7 đến 9 tháng ở Nha Trang, khám phá được âm mưu của bọn làm phản. Độ 500 kẻ đã chạy thoát, số khác bị bắt và bị hành quyết chừng bảy, tám trăm người. Vì thành trì được trang bị đầy đủ, quân địch bao vây bị cầm chân, không làm gì nổi.(11)

          Con số bị giết trong lá thư của giáo sĩ Longer quả thật khủng khiếp. Hành quyết tới bảy, tám trăm người, phải giết liền để tránh hậu họa, giết bao nhiêu ngày mới xong! Phải chăng truyền thuyết thêu dệt chung quanh “Hòn Đá Chém” ở chùa Thập Tháp ngày nay là từ sự kiện nầy.  Chùa Thập Tháp ở phía cửa Bắc của thành Bình Định là nơi lính Hậu đồn thoát ra để chạy về phòng tuyến của Trần Quang Diệu.

● Con số lính bị hành quyết của Quốc sử quán và Ngô gia văn phái khá mơ hồ. Còn trong thư của giáo sĩ Longer có đáng tin cậy không!

          Nếu xét “chi hiệu đội ngũ” của Ngũ Đồn quân Ngự lâm lúc thiết lập, dưới Đội còn có Thập và Ngũ thì mỗi Đội có 5 thập, tức mỗi Hiệu có 100 quân, mỗi Chi chừng 500, dẫn đến mỗi Đồn khoảng 2.500 quân. Cộng lại 5 Đồn được 12.500, gần đúng với 2/3 số lính kén tuyển ở 6 thuộc (An Nghĩa, Nhơn Ân, Nghĩa Hòa, Sơn Điền, Võng Nhi, Hà Bạc) của 3 huyện là hơn 18.900 dân binh. Riêng 2 thuộc Võng Nhi và Hà Bạc với các xã miền dưới cho bổ làm thủy quân.(12)

          Xét vậy thì thấy số quân thoát được và bị hành quyết phải trên quân số 2 Chi. Như vậy khớp với sự kiện đã ghi nhận lính làm binh biến, là Trung chi của Đô đốc Võ Văn Sự, và Hữu chi của Đô đốc Nguyễn Bá Phong, dưới sự thống lãnh của Phó Thống chế Hậu đồn Đô đốc Hồ Văn Viện.

          Sau trong Đại Nam thực lục thấy chép Đô đốc Võ Văn Sự và Nguyễn Bá Phong tham dự các trận đánh chống lại quân Nam. Trong một lá thư của Barisy viết cho Marquini và Letondal ngày 16.7.1801, cho biết ông thấy Đô đốc Nguyễn Bá Phong trong tù ở Huế đeo gông xiềng nặng, còn bị xích vào cột.(13)

3. Oán hờn của Hòn đá chém

          Binh biến ở thành Bình Định tháng 4 năm 1800 đến nay đã hơn 200 năm, Hòn đá chém ở chùa Thập Tháp đã ghi nhận nỗi oán hờn khóc than của dân binh Bình Định. Nó không hẳn là hòn đá kê đầu tội nhân để đao phủ hành hình như lời truyền. Nó là chứng tích của sự kiện lịch sử: Võ Tánh đã hành quyết bảy, tám trăm lính làm binh biến để mong giữ yên thành Bình Định.

          Lịch sử đã khép lại, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu khép sinh mạng mình trong biển lửa và chén thuốc độc, làm tròn trách nhiệm của tướng giữ thành. Trần Quang Diệu dùng lễ nghi chôn cất họ bên lầu Bát Giác,(14) thực hiện đúng vai trò của người chiến thắng, trọng nghĩa khí của người thua cuộc. Dân Bình Định ai oán khóc than nhưng không oán thù Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, sau nầy họ vẫn đến mộ hai ông bái viếng để bày tỏ sự trọng vọng nghĩa khí của hai ông.

Lăng mộ Võ Tánh

          Nói cho cùng, thời Xuân Thu ở đất nước Trung Hoa không có cuộc chiến tranh nào mà chính nghĩa cả, ở Việt Nam thời phân tranh giành giật quyền lực cũng vậy. Chiến tranh chỉ đưa đến chết chóc và hận thù, chiến tranh là nhà cháy máu chảy đầu rơi. Trong tâm thức dân gian của người Việt, hận thù nên cởi không nên buộc, oán hờn than khóc chỉ là ký ức thoáng qua mau, thức tỉnh nỗi đau thân phận con người, bao dung cuộc sống với nhau mới là điều đáng lưu tâm. ◙

 

Chú Thích:

(1) https://phatgiao.org.vn ngày 03.9.2019

(2) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 423

(3) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 432

(4) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 433

(5) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 438

(6) Tập san Sử Địa, số 21, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1971, tr 143

(7) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 424

(8) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 431

(9) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 438

(10) Hoàng Việt hưng long chí, Nxb Văn học 1993 bản pdf, tr 122

(11) Tập san Sử Địa, số 21, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1971, tr 144

(12) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 419

(13) Tập san Sử Địa, số 21, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1971, tr 183

(14) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 478

 



Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

QUÂN NGỰ LÂM CỦA NGUYỄN VƯƠNG PHÚC ÁNH

 

Ảnh minh họa quân Tả đồn của Lê Chất đi thong thả khua chiêng trống


            Hiểu theo nghĩa thông thường, quân Ngự lâm là loại quân hậu cận, tinh nhuệ, được tuyển chọn kỹ lưỡng, bố trí ở bên cạnh vua, bảo vệ an toàn cho vua. Nhưng trong trận chiến tiến ra Quy Nhơn giao tranh với nhà Tây Sơn những năm 1799 - 1802, trong quân thứ của Nguyễn vương Phúc Ánh có binh chủng Quân Ngự Lâm mà ở đây quân binh đều kén lấy người của Quy Nhơn, hầu hết chỉ huy - kể cả tướng lĩnh cao cấp lại là hàng tướng của Tây Sơn theo về. Trong trận chiến, đội quân Ngự lâm nầy đã có nguyên một quân hiệu trở ngược lại ngọn giáo làm khốn đốn cho quân của Nguyễn vương không ít, làm cho Phúc Ánh phải bao phen gọi là lao tam khổ tứ, ăn chẳng ngon mà ngủ cũng không yên.

            Nguyên trước đây, năm 1793, quân Gia Định của Nguyễn Ánh nương theo gió mùa tiến ra cửa Thị Nại, vây hãm Hoàng Đế thành của Thái Đức Nguyễn Nhạc. Quang Toản ở Phú Xuân cho đại binh vào giải cứu Quy Nhơn rồi kê biên luôn kho tàng, võ khố, khiến bác của vua là Thái Đức Nguyễn Nhạc uất ức mà chết. Việc này đã gây không ít nỗi thất vọng trong lòng tướng sĩ nhà Tây Sơn. Đến năm Mậu Ngọ 1798, con của Thái Đức là Nguyễn Bảo cũng bị binh Phú Xuân vào bắt giết càng làm cho nhà Tây Sơn ly tán. Một số thuộc tướng của Nguyễn Nhạc đã bỏ vào Nam theo hàng Nguyễn Ánh. Hàng loạt các Đại Đô đốc Đoàn Văn Cát, Lê Chất, Võ Đình Giai, Nguyễn Văn Điểm, các Đô đốc Lê Văn Niệm, Hồ Văn Viện, Trần Văn Lân, Đô úy Mai Gia Cương, Nguyễn Văn Trí… chạy về với quân thứ Gia Định. Những tướng lĩnh nầy sau sẽ là cấp chỉ huy Quân Ngự Lâm của Nguyễn Phúc Ánh.

            Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1799, Nguyễn Ánh đánh chiếm được Quy Nhơn, đổi thành Quy Nhơn (Hoàng Đế thành) làm thành Bình Định. Tháng 8 cho kén binh ở phủ Quy Nhơn, theo ngạch binh, sổ sách cũ của Tây Sơn mà tuyển được gần 19.000 quân, biên thành Chi Hiệu Đội Ngũ.(1) Lấy quân ở 2 Thuộc Võng Nhi, Hà Bạc và các xã miền dưới sung vào Thủy quân. Lấy quân của 4 Thuộc An Ngãi, Nhơn Ân, Nghĩa Hòa, Sơn Điền của huyện Tuy Viễn đặt làm 5 Đồn quân, gọi là Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân.(2) Biên chế mỗi Đồn có 5 Chi gọi là Trung Chi, Tiền - Hậu - Tả - Hữu Chi; mỗi Chi gồm 5 Hiệu gọi là Trung Hiệu, Tiền - Hậu - Tả - Hữu Hiệu; mỗi Hiệu có 2 Đội gọi là Nhất Đội và Nhị Đội.

            Lược sơ các viên tướng quản lĩnh Ngũ Đồn Ngự Lâm quân:

+  Trung Đồn quân Ngự Lâm: Đô Thống chế là Khâm sai Phó tướng Tổng nhung Cai đội Phan Tiến Hoàng, trước là Cai cơ Phó tướng Tiền quân, bị giáng làm Cai đội vào tháng Giêng năm 1798 lúc còn quản dinh Bình Thuận. Thống chế là Thuộc nội Vệ úy vệ Võ Uy - Trung Đồn quân Thần Sách Hoàng Công Thành. Theo Liệt Truyện, Thành người Phù Ly - Bình Định, Đô đốc của Tây Sơn theo vào Gia Định từ năm 1793.

+  Tiền Đồn quân Ngự Lâm: Đô Thống chế là Đại Đô đốc Đoàn Văn Cát của Tây Sơn, người Bình Sơn - Quảng Ngãi. Làm trấn thủ Phú Yên, năm 1798 xảy ra binh biến Tiểu triều Nguyễn Bảo, Cát bỏ vào Diên Khánh theo Nguyễn vương. Thống chế là Đô đốc Lê Văn Niệm của Tây Sơn, người Phù Ly - Bình Định, mới theo về tháng 4 năm 1799.

+  Tả Đồn quân Ngự Lâm: Đô Thống chế là Đại Đô đốc Lê Chất của Tây Sơn. Thống chế là Đại Đô đốc Võ Đình Giai. Cả hai đều là người Phù Ly - Bình Định, cùng theo về với quân Gia Định vào tháng 4 năm 1799.

+  Hữu Đồn quân Ngự Lâm: Thống chế là Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Vệ úy vệ Dương Võ - Tả Đồn quân Thần Sách Từ Văn Chiêu. Chiêu nguyên trước là Tham tán của Thái Đức Nguyễn Nhạc, tháng 2 năm 1794 đã có mặt ở Gia Định. Phó Thống chế là Đại đô đốc Nguyễn Văn Điểm của Tây Sơn, mới theo về tháng 4 năm 1799.

+  Hậu Đồn quân Ngự Lâm: Thống chế là Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Vệ úy vệ Diệu Võ - Tả Đồn quân Thần Sách Nguyễn Văn Phát. Theo Liệt Truyện, Phát người Phù Ly, Bình Định, ở với Tây Sơn làm tới chức Chỉ huy, từ năm 1793 đã theo vào với Gia Định. Còn Phó Thống chế là Đô đốc Hồ Văn Viện của Tây Sơn, mới theo về Nguyễn vương tháng 4 năm 1799.

 
           Binh chế Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm là Đồn, Chi, Hiệu, Đội, dưới Đội còn có Thập và Ngũ. Với hơn 18.900 binh tuyển được ở huyện Tuy Viễn, phải phân lực lượng của 2 Thuộc Võng Nhi và Hà Bạc về với Thủy binh, nên chưa xác định rõ mỗi Đồn quân Ngự Lâm gồm bao nhiêu quân lính. Nhưng máy móc một chút, nếu một Đội có 5 Thập thì mỗi Hiệu sẽ có 100 quân, dẫn đến mỗi Đồn khoảng 2.500 quân. Cộng lại 5 Đồn được 12.500, gần đúng với 2 phần 3 số quân là lính đã kén tuyển ở An Ngãi, Nhơn Ân, Nghĩa Hòa, Sơn Điền, là 4 trong 6 Thuộc của huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn thời bấy giờ.

            Ít lâu sau Phó thống chế Hậu Đồn quân Ngự lâm là Hồ Văn Viện xin lập 3 đội Chiến võ quân Lạc tòng (là quân binh lưu lạc, không có tên trong sổ sách ở phủ Quy Nhơn, nay vui vẻ theo về). Nguyễn vương y cho. Lại cho năm Đồn và hai Vệ Thiên Trường, Tín Trực, từ Đô thống chế đến Đội trưởng Tham luận, đều được mộ lập Thuộc quân theo mình sai sử.(3) Nhưng chính quyết định này đã làm lủng củng đội quân ngay bước đầu thành lập. Tháng Chạp năm 1799, xảy ra chuyện ở Hậu Đồn có việc sửa chữa sổ sách tuyển quân, che dấu sự nhập nhằng lính Lạc tòng với lính trốn ở trong quân… Việc bị phát giác, Thống chế Hậu Đồn quân Ngự lâm là Nguyễn Văn Phát và Tham tri Binh bộ Hồ Văn Định đều bị miễn chức. Nguyễn Ánh điều Thống chế Trung Đồn là Hoàng Công Thành sang quản lãnh Hậu Đồn.

            Mùa gió bấc thổi mạnh, Nguyễn vương Phúc Ánh rút quân về Gia Định, đặt Ngũ Đồn Ngự Lâm dưới quyền sai bát của Chưởng Hậu quân Võ Tánh, cùng cho trấn giữ thành Bình Định. Nhưng trong sách lược điều binh phân hóa quân Tây Sơn mới tuyển, Phúc Ánh cho Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêm thống quản Tả Đồn quân Ngự lâm, đưa cả về đóng ở Trấn Biên (Biên Hòa), Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức kiêm thống quản Hữu Đồn, đưa cả về trấn đóng ở Mỹ Tho (Tiền Giang).(4)

            Chẳng bao lâu sau đại tướng Tây Sơn là Thiếu phó Trần Quang Diệu và Đại tư đồ Võ Văn Dõng đem binh Phú Xuân vào hòng lấy lại Quy Nhơn. Ở Phú Yên, hàng tướng Phạm Văn Điềm cũng bất thần quay ngược lại đánh úp quân Gia Định, Lưu thủ Phú Yên quân Nguyễn Ánh là Hồ Đức Vạn không biết sống chết thế nào, một số thuộc tướng kẻ chạy ra với Võ Tánh ngoài Bình Định, người chạy vô Diên Khánh. Tham đốc Phạm Văn Điềm liên kết với binh Phú Xuân chiếm giữ Phú Yên, án ngữ, ngăn viện binh Diên Khánh ra giải cứu Bình Định. Binh biến ở Phú Yên đã làm đảo ngược tình thế, bất lợi cho quân Nam, khiến Nguyễn Ánh phải đưa binh trở ra Quy Nhơn mong giải vây Thành Bình Định.

            Kể từ đây, từ tháng Giêng năm 1800 cho đến 1802 là năm kết thúc trận chiến ở Quy Nhơn giữa Nguyễn Phúc Ánh với Nhà Tây Sơn, binh chủng quân Ngự Lâm có 3 phiên hiệu Trung - Tiền - Hậu Đồn dưới quyền của Chưởng Hậu quân Võ Tánh đang bị hãm trong thành Bình Định, 2 phiên hiệu Tả - Hữu Đồn nằm trong biên chế lực lượng giải vây của Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Huỳnh Đức.

●  Về Hậu Đồn Ngự Lâm Quân :

            Binh Phú Xuân vào đến Quy Nhơn, Võ Văn Dũng đưa thủy binh án ngữ cửa Thị Nại, còn Trần Quang Diệu đem bộ binh đắp lũy 4 mặt chung quanh, vây kín thành Bình Định. Binh lương đầy đủ, thành trì vững chắc nên Võ Tánh cố thủ, chia quân phòng ngự chặt. Đến tháng 4 năm 1800, Trung Chi và Hữu Chi của Hậu Đồn Quân Ngự Lâm gây ra binh biến, giết quân giữ thành, mở được cửa phía Bắc chờ đón quân Phú Xuân. Nhưng binh biến không thành công, hơn 400 người đào thoát được về với Tây Sơn, số đồng mưu còn lại, theo Đại Nam Thực Lục cùng Hoàng Việt Hưng Long Chí thì đều bị Võ Tánh đem ra giết hết.

            Theo thư tịch từ các nhà truyền giáo, lá thư viết vào ngày 04.09.1801 của Longer gởi cho 2 giáo sĩ Boiret và Descourvières (Nguyễn Ngọc Cư dịch, Tập San Sử Địa số 21 - nxb Khai Trí, Sài Gòn 1971), cho thấy rõ số binh lính gây biến còn ở trong thành bị Võ Tánh đem ra hành quyết là chừng 700 đến 800 người, số thoát được ra ngoài gần 500 người.(5) Như vậy chắc chắn các Chi, Hiệu lính Hậu Đồn còn lại có gì đi nữa cũng sẽ bị Võ Tánh khống chế, giám sát chặt chẽ, không cho chiến đấu, chỉ phục dịch chiến trường như dạng lao công đào binh… Qua binh biến nầy, cứ tạm xem như là Hậu Đồn Quân Ngự Lâm chỉ sau vài tháng thành lập đã mất hiệu lực chiến đấu.

            Thống chế trước đây của quân Ngự lâm Hậu Đồn là Nguyễn Văn Phát bị miễn chức, sau chết trong quân không rõ vào lúc nào, ở đâu. Nhưng chắc chắn là không chết ở trong thành Bình Định. Vì Thực Lục có chép là Ông được tặng Chưởng cơ, thờ ở Miếu núi Một cửa Thị Nại (miếu ở Tháp Đôi) - nơi thờ Võ Di Nguy, Tống Viết Phước và các tướng chết trận chết bệnh từ Quảng Ngãi đến Thị Nại…

            Còn Phó Thống chế Hồ Văn Viện kể từ khi về ở trong quân của Võ Tánh tại thành Bình Định, cả trong Thực Lục cũng như Liệt Truyện không thấy ghi chép gì nữa. Trong khi đó các chỉ huy cấp thấp như Trưởng hiệu, Cai đội Đội trưởng của các phiên hiệu trong Ngũ Đồn quân Ngự lâm, thấy chép có người được thuyên chuyển qua Quân Thần Sách, có người được ghi tên nơi các Miếu thờ… Xét theo hành trạng của Hồ Văn Viện khi thành lập quân Ngự lâm, khi thành lập đội Chiến võ quân Lạc tòng, xét theo quy mô binh biến của Hậu Đồn Quân Ngự Lâm, liên lạc được với Thiếu phó Trần Quang Diệu ở bên ngoài thì chỉ là tướng lãnh cấp cao. Lá thư của Longer có cho biết Trần Quang Diệu khi vào vây thành Bình Định với hy vọng chiếm được thành là mong mỏi vào một cuộc nội phản ở đây. Đầu mối nội phản ở thành Bình Định là ai? Đô đốc Hồ Văn Viện phải là người chỉ huy binh biến năm 1800.

●  Về Trung Đồn Ngự Lâm Quân :

            Khi Võ Tánh cùng Ngô Tùng Châu người uống thuốc độc, người tự thiêu tuẩn tiết tại thành Bình Định tháng 5 - 1801, Trần Quang Diệu đưa binh vào chiếm lĩnh thành mà không giết một ai. Có lẽ lính của đội quân Ngự lâm trong thành lúc này đều là tù binh của quan Thiếu phó nhà Tây Sơn.

            Tháng 2 năm 1802, Đô thống chế Trung Đồn quân Ngự lâm là Phan Tiến Hoàng lẻn về được với Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh cho lệ theo quân Lê Văn Duyệt. Sau thấy Tiến Hoàng có mặt đánh các trận ở Đạm Thủy (Cát Minh - Phù Cát, Bình Định bây giờ) và Tân Quan (Tam Quan - Hoài Nhơn, Bình Định bây giờ). Dưới triều Gia Long, ra Bắc Hà, Tiến Hoàng thụ chức Trấn thủ Kinh Bắc, rồi Lưu thủ Quảng Ngãi. Sau đi đánh giặc Đá Vách ở Quảng Ngãi bị thất bại, Lê Văn Duyệt hài tội cho trói giải về kinh.

            Còn Thống chế Trung Đồn Ngự lâm quân Hoàng Công Thành trước đã điều sang quản lãnh Hậu Đồn, chết trong quân thứ, sau được tặng Chưởng cơ, thờ ở Đền Song Trung - Chiêu Trung Từ, nơi thờ Võ Tánh, Ngô Tùng Châu cùng các tướng chết trận chết bệnh ở trong thành Bình Định.

●  Về Tiền Đồn Ngự Lâm Quân :

            Cũng trong tháng 2 năm 1802, Thống chế Tiền Đồn quân Ngự lâm là Lê Văn Niệm và Khâm sai Cai đội Võ Viết Bảo cũng lẻn được về với Nguyễn Ánh. Trong đợt về này còn có Phó Đô Thống chế Trung dinh quân Thần Sách là Phan Văn Kỳ. Nguyên Phan Văn Kỳ và Vệ úy Nguyễn Văn Trí bị quân Tây Sơn bắt được vào tháng Giêng năm 1801 trong trận Càn Dương (Cát Tiến – Phù Cát bây giờ), còn Niệm và Bảo cùng quân Tiền Đồn Ngự lâm bấy lâu bị hãm trong Thành Bình Định với Võ Tánh, tất cả đều là tù binh của Trần Quang Diệu hồi tháng 5 năm 1801.

            Sau nầy ra Bắc, Lê Văn Niệm thụ chức Trấn thủ Thái Nguyên. Còn Đô Thống chế Tiền Đồn quân Ngự lâm Đoàn Văn Cát trước đã chết trong quân tại thành Bình Định, sau thờ ở Đền Song Trung, được tặng Chưởng cơ.

            ●  Về Hữu Đồn Ngự Lâm Quân :

            Để giải cứu cho thành Bình Định bị Trần Quang Diệu vây hãm, tháng 5 – 1800 Nguyễn Ánh phái Nguyễn Huỳnh Đức kèm sát Hữu Đồn quân Ngự lâm, sai Thống chế Từ Văn Chiêu và Phó thống chế Nguyễn Văn Điểm đem quân Hữu đồn vượt núi Cù Mông tiến ra Phú Trung. Quân Hữu đồn cứ trùng trình mãi, đến tháng 7 – 1800 thì Thống chế Từ Văn Chiêu đem hơn 500 lính bản đồn quay về với Tây Sơn.

            Kể từ thời điểm nầy Hữu Đồn quân Ngự lâm được xem như là đã xóa sổ, Từ Văn Chiêu đem binh Hữu đồn về lại với Tây Sơn, là lực lượng sẽ gây không ít tổn thất cho quân của Nguyễn vương sau đó. Trong các trận chiến nẩy lửa với quân Nam hầu như đều có mặt Từ Văn Chiêu.

+ Trận Thị Dã (Canh Hiển – Vân Canh Bình Định là Gia Lai hiện nay) tháng 11 năm Canh Tuất 1800, quân binh của Từ Văn Chiêu Chiêu đã kịch liệt ngăn chống quân Nam. Tại đây  Chiêu chặn bước tiến quân của chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành và Tả dinh quân Thần Sách Đô thống chế Lê Văn Duyệt (đến năm 1802 Lê Văn Duyệt mới được phong chưởng Tả quân).(6)

+  Trận Càn Dương (Cát Tiến – Phù Cát, Gia Lai bây giờ), tháng Giêng 1801, Chiêu bắt sống Thống chế Trung dinh của Thần Sách Quân là Phan Văn Kỳ và Vệ úy vệ Tín Uy là Nguyễn Văn Trí, giết tại trận Vệ úy vệ Trung Võ là Trần Văn Xung, Vệ úy vệ Uy Võ Hoàng Phước Bảo, Vệ úy vệ Cung Võ Hoàng Văn Tứ.(7)

+ Trận Tân Quan (Tam Quan – Hoài Nhơn, Gia Lai bây giờ), tháng Sáu năm 1801, Chiêu phục binh ở Hang Dơi bắt giết Trung dinh Thần Sách Quân Đô Thống chế Tống Viết Phước.(8)

            Các tướng quân Nam đều căm hận Từ Văn Chiêu. Sau Từ Văn Chiêu bị bắt cùng các tướng tháp tùng Trần Quang Diệu lúc chạy ra Thanh Chương - Nghệ An, Chiêu bị giết khi còn xiềng ở trong ngục. Giống trường hợp Từ Văn Chiêu còn có Tham đốc Phạm Văn Điềm. Còn người sát cánh với Từ Văn Chiêu là Phó Thống chế Hữu Đồn quân Ngự lâm Nguyễn Văn Điểm, sau bị xử chết cùng với các đại tướng Tây Sơn vào tháng Một (cách gọi tháng 11 âm lịch trong sách xưa) năm 1802 trong lễ tuyên cáo võ công, yết tế Thái miếu “dâng lễ hiến phù” ở Phú Xuân.

            ●  Về Tả Đồn Ngự Lâm Quân :

            Ra giải cứu thành Bình Định, Tả Đồn quân Ngự lâm bấy giờ thuộc sai phái của chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành, cánh quân từ cửa biển Xuân Đài (Sông Cầu – Phú Yên, nay thuộc Đắc Lắc) tiến ra theo hướng đèo Cù Mông. Ngay từ tháng 5 năm 1800, quân Tả đồn có nhiều tướng lĩnh (Phó trưởng chi Trung Chi Đỗ Văn Pháp, Phó Trưởng chi Hữu Chi Lương Văn Cương cùng Trưởng Hiệu Hậu Chi Nguyễn Văn Vân…) đã tìm cách trốn về với Tây Sơn, có đêm đào thoát cùng hơn 200 lính.

            Đô Thống chế Tả Đồn quân Ngự lâm là Lê Chất, viên tướng mà vào triều Gia Long sau này, năm 1819 làm tới Tổng trấn Bắc Thành. Nên dù có thế nào đi nữa, nói chung Tả Đồn Ngự Lâm Quân cũng tồn tại đến năm 1802. Tháng 5 – 1802, vừa lên ngôi Gia Long liền đổi Tả Đồn quân Ngự lâm làm dinh Hậu quân, thay thế phiên hiệu dinh Hậu quân của Võ Tánh đã bị xóa sổ ở thành Bình Định. Gia Long phong cho Lê Chất làm Khâm sai chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân.(9)

            Còn Thống chế Võ Đình Giai trước đã chết trong quân khi còn đóng binh ở Hoa An. Sau được tặng Chưởng Cơ, thờ ở Miếu Hòn Nần vũng Cù Mông - nơi thờ Đô thống chế Hậu dinh quân Thần Sách Mai Đức Nghị và các tướng chết trận chết bệnh từ Thị Dã đến Phú Yên… Trong quân thứ tướng lĩnh Tả Đồn, có người họ thuộc với Giai là Đô đốc Võ Đình Duyên trước cũng theo Giai về với quân Gia Định cùng lúc, là Trưởng chi Tiền chi Tả Đồn quân Ngự lâm. Mùa xuân 1801 Duyên được thăng Ngự lâm quân Tả đồn Phó Thống chế, sau là Phó tướng dinh Hậu quân.

            ●  Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân :

            Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm tồn tại trong quân thứ Nguyễn Ánh chưa tròn đủ 3 năm. Binh chủng này xem ra đã không đem nhiều kỳ vọng cho Nguyễn vương Phúc Ánh.

            Các Đồn quân Trung, Tiền, Hậu đặt dưới quyền sai bát của Chưởng Hậu quân Võ Tánh phòng ngự Thành Bình Định, nơi đây đã xảy ra biến cố 2 Chi của Hậu Đồn là Trung Chi và Hữu Chi giết quân, mở cửa thành để đào thoát về với Tây Sơn.

            Còn với Hữu đồn, Nguyễn vương Phúc Ánh cho giết Đô Thống chế Từ Văn Chiêu ngay khi ông còn bệnh ở trong ngục, đủ biết quân Nam căm hận binh tướng Hữu Đồn Ngự lâm quân biết chừng nào.

            Đối với Tả đồn, bên ngoài thì an ủy phủ dụ nhưng bên trong Nguyễn Ánh không phải là không ghét cay ghét đắng Lê Chất, viên tướng quản lĩnh Tả Đồn quân Ngự Lâm. Rất nhũn nhặn, nhưng đã có lần Nguyễn Ánh phải cắn răng đồng tình với thuộc tướng quy trách nhiệm Lê Chất đã không truy đuổi bắt Vua Quang Toản.

            Tháng 5 năm 1801, khi Nguyễn Ánh bỏ chiến trường Quy Nhơn tiến ra đánh lấy Phú Xuân, Quang Toản chạy ra Bắc, Lê Chất được sai phái đuổi theo. Nhưng Lê Chất cứ “khua trống mà đi thong thả. Khi quân đến châu Nam Bố Chính thì Quang Toản đã qua sông đi rồi. Đến đây bị gọi về, đem dâng hai quả ấn ngụy. Vua cùng các quan bàn việc đánh Tây Sơn, nói rằng: Quang Toản được thoát là tự người chứ không phải tự trời”.(10)

            Với Ngũ Đồn Ngự lâm quân, nói cho cùng chỉ có Tả đồn của Lê Chất là có đem lại chiến công cho quân Nam, nhưng thật ra các tướng lĩnh của quân Nam cũng chẳng tin cậy gì đội quân này. Tháng 6 - 1800 Tiền quân Nguyễn Văn Thành đã dâng sớ lên Nguyễn vương:

+  Số quân của giặc hiện nay thêm nhiều, chúng dựa núi đắp lũy, hiện đã vượt qua sau lưng quân ta, mà quân ta thì bị ốm, con số có phần sút kém. Hơn nữa, quân Tả đồn thì mỗi ngày thường ra đầu hàng giặc, trong quân hư thực thế nào giặc đều biết cả. Số còn lại cũng không đủ tin, nên không dám sai khiến. Thần đương tính thế giặc, lánh chỗ khỏe, đánh chỗ yếu, đem các quân đánh đằng trước, quân voi ngăn đằng sau. Nếu nay lại chia Tượng quân làm hai, sợ quân chia thì sức yếu, chưa phải là kế vạn toàn”.(11)

            Thống quản Tượng binh là Nguyễn Đức Xuyên cũng theo đó dâng sớ nên rút quân Tả đồn về hành tại để khỏi lo về sau. Còn theo Liệt Truyện thì ngày trước, khi Lê Chất mới về hàng đầu, Nguyễn Ánh cho Chất ở trong quân của Võ Tánh, nhưng Tánh cũng tìm cách đẩy Chất vô Gia Định.

            Vậy điều gì đã khiến Nguyễn Phúc Ánh cho thành lập đội quân với binh tướng đều toàn là người của Quy Nhơn. Tại sao Vương cho lấy phiên hiệu là Quân Ngự Lâm. Tại sao Vương phải bao phen lao tam khổ tứ an ủy, phủ dụ binh tướng đội quân sớm đầu tối đánh nầy. Tại sao Vương phải đưa mẹ và vợ con của Chất vào tận Gia Định cấp tiền lương nuôi nấng (!?).

            Trước tiên phải nói là Gia Định đất rộng nhưng người chưa đông. Lính Gia Định cũng đâu phải toàn tâm theo đuổi cuộc chiến, họ lẩn trốn, bỏ hàng ngũ khiến quan địa phương phải bắt nhốt gia thuộc họ để làm áp lực. Năm 1798, Hoàng tử Cảnh từng xin cha:

+  Trai gái có phân biệt, đó là chế độ xưa, người đàn bà bị giam kín một đêm, trọn đời khó lòng biện bạch. Nay vợ con lính trốn bắt giam lẫn lộn, sợ không được phân biệt, xin hạ lệnh cho hữu ty làm chốn giam riêng.(12)

            Với nhu cầu cho cuộc chiến, Nguyễn Ánh phải thu nạp nhiều quân binh người nước ngoài, không riêng chỉ lính Tây dương người Pháp, người Y Pha Nho (Tây Ban Nha) mà Bá Đa Lộc mang về. Khi Võ Tánh trấn giữ thành Bình Định, quân binh dưới quyền ông ngoài lính bản dinh cùng với Ngũ Đồn quân Ngự lâm, các tướng sĩ Vệ Võ Lương Trung chi Hữu quân, Đội Thuộc Viên Trung chi Tiền quân, Tả chi Túc Uy dinh Tiên phong, hai Vệ Thiên Trường và Tín Trực… còn thấy cả một vạn quân Xiêm (đúng ra là quân Cao Miên) cũng có mặt ở đó.(13)

            Lúc đem binh giải vây Quy Nhơn, khi các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Đức Xuyên xin đưa Tả Đồn Ngự lâm quân về phía sau để tránh hậu họa, qua lời Dụ của Nguyễn vương cho các tướng cũng thấy ở đây có mặt 5.000 lính Chân Lạp (Cao Miên) của tướng Cao La Hâm Sâm:

+ Việc dụng binh cần phải biết địa hình. Thị Dã là nơi núi rừng hiểm hóc, không phải là nơi dùng voi; mà đường Cù Mông thì từ Dự Nguyên đến Vân Sơn, Phú Trung, địa thế bằng phẳng, rất lợi việc đánh bằng voi. Huống chi bọn giặc chỉ phô trương hão ở đấy, không phòng bị gì, chính nên nhân mà đánh chiếm lấy. Phải kén ngay voi đực những con đã từng ra trận, cùng 100 tượng binh mà sai đi. Còn quân Tả đồn thì hãy đợi khi quân Chân Lạp đến, sẽ có cách xử trí riêng, động gấp không phải là hay.(14)

            Lục đục giữa quân Phú Xuân và quân Quy Nhơn đã tạo cơ may cho Phúc Ánh thu nạp được binh lính Quy Nhơn về với mình. Với phiên chế của nhà Tây Sơn lấy Ấp làm Đội, biến toàn dân đều làm lính đã cung cấp cho Nguyễn vương nguồn nhân lực tinh nhuệ, dồi dào để bổ sung, tổ chức quân đội. Thuở thành lập, chỉ trong thời gian ngắn ở Tuy Viễn mà Nguyễn vương đã kén được gần 19.000 quân, đội ngũ sắp sẵn, chỉ cần biên chế lại là đã có liền phiên hiệu Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân. Lính Quy Nhơn ở đây có phải trước là lính Ngự lâm cũ của Thái Đức Nguyễn Nhạc hay không!? Hay là Phúc Ánh lấy tên gọi Ngự lâm để vỗ về, xem như lính Quy Nhơn mới kén tuyển là lính hậu cận của mình. Hay là Phúc Ánh gieo rắc cho họ tự ám thị, xem đây là lực lượng của Thái Đức, xung trận đánh binh Phú Xuân trả thù cho vua Thái Đức!

            Phải nói Nguyễn Phúc Ánh chẳng phải là kẻ lơ mơ nghệ thuật chiến tranh, mù mờ việc thu phục kẻ về dưới trướng. Chẳng vậy đã không có Lê Chất theo về cúc cung tận tụy. Chỉ cần lấy hiểu biết của Lê Chất về quân tình thủy binh Tây Sơn cũng đủ giúp Nguyễn vương thu được thắng lợi ở trận đại hải chiến cửa Thị Nại, đối đầu với Đại tư đồ Võ Văn Dõng tháng Giêng năm Tân Dậu 1801. Còn để đối phó với hạng binh sĩ lúc nào cũng lăm le trốn về chủ cũ Tây Sơn, Phúc Ánh chẳng phải tay vừa. Thấy quân Ngũ Đồn Ngự lâm hầu như mỗi ngày đều có kẻ chạy về với giặc, có lúc trốn đi tới mấy trăm người cùng với cấp chỉ huy, tháng 7 - 1800, Phúc Ánh liền cho những lính ốm của Tả Đồn, Hữu Đồn Ngự lâm quân về “thăm nhà”, lính ốm bệnh thì đánh đấm được ai, cho quách về nhà khỏi tốn quân lương, lính đã trốn đi thì đâu phải chỉ để về thăm nhà! Kèm bên cạnh đó Nguyễn vương ban lời Dụ, đọc lại lời Dụ mới thấy tầm răn đe của bộ tham mưu quân Nam:

+ Thương nhớ quê hương, ai không như thế. Bọn các ngươi từ năm ngoái về thành Gia Định, năm nay lại theo đại binh đi đánh giặc, trải từ Hội An đến Thị Dã, từ Lữ Quán đến Hoa Lộc, gian khổ chẳng từ, hoặc vì tên đạn mà bị thương, hoặc nhiễm gió sương mà mắc bệnh, thiếu người nuôi nấng, lòng về lại càng thiết tha, cho nên triều đình nghĩ thương, đặc biệt thả cho về. Nên về nói chuyện với những người đã trốn trước, cũng vì nóng về, trên đã soi xét, nên bảo ban nhau, chớ nên ngờ sợ, sớm muộn ta cũng lấy lại được Quy Nhơn, không bắt tội đâu.(15)

            Vì sao phần nhiều binh tướng của Ngũ Đồn Ngự Lâm Quân đã không toàn tâm toàn ý ở lại trong quân thứ của Nguyễn Ánh… Ngay như Đô đốc Nguyễn Đức Thu là em của Thống quản Tượng binh quân Nam - chiến tướng Nguyễn Đức Xuyên, Thu theo Từ Văn Chiêu phản nghịch Nguyễn Ánh, sau thất trận mới về hàng trở lại với quân Gia Định. Nếu nói riêng Từ Văn Chiêu có hằn thù cá nhân với tướng của quân Nam là Tống Viết Phước, thì binh tướng Hậu Đồn quân Ngự lâm gây ra binh biến ở Thành Bình Định lẽ nào cũng có hằn thù với Võ Tánh (!!!). Nếu nói Lê Chất phải ở lại trong quân của Phúc Ánh vì Chất có cơ tâm làm quan làm tướng, theo Nguyễn vương để trả thù binh Phú Xuân đã giết Đại Tư lệ Lê Trung, hay vì mẹ già, vợ yếu, con thơ của Chất đang ở trong tay của Nguyễn vương tận trong Gia Định (!).

            Các tướng lĩnh của Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm trước kia thấy Nhà Tây Sơn - anh em, chú bác tranh giành quyền lực với nhau, gây ra giết chóc, họ đã không mong mỏi gì ở chính nghĩa của triều đại mới nữa mà bỏ theo vào với Phúc Ánh. Nhưng trong cuộc chiến ở Quy Nhơn này, họ thấy Phúc Ánh cũng chỉ là người muốn lấy lại quyền lực của cha ông ngày trước mà thôi. Hồi mới đánh chiếm được Quy Nhơn năm 1799, vào tháng 7 sau khi đã tổ chức thu thuế điền ở đây, Nguyễn vương còn có ý thu luôn thuế thân, là suất thuế mà trước rồi Tây Sơn đã tha cho dân binh Quy Nhơn. Tham mưu Trung dinh Đặng Đức Siêu dâng mật sớ ngăn cản, không nên thu để gây ơn.(16) Phúc Ánh nghe theo, nhưng chỉ 3 tháng sau là ban lệnh thu thuế thân cả 2 phủ Quy Nhơn, Phú Yên.

            Đặng Đức Siêu cũng là tác giả của bài Văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu nổi tiếng, Siêu là người Quy Nhơn thì lẽ nào binh tướng người Quy Nhơn không biết chuyện. Vắt kiệt sức dân, nói một đằng làm một nẻo, cai trị bằng sự trí trá dễ dẫn đến sự thất vọng trong lòng những kẻ từng khuấy nước chọc trời mới theo về. Bên cạnh đó binh tướng Nam Hà thường ra mặt khinh khi kẻ về hàng, quân Ngự lâm sớm đầu tối đánh cũng là chuyện hiển nhiên.

            Trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn, Nguyễn vương Phúc Ánh gặp nhiều cơ may đến với mình. Nhưng cũng phải thừa nhận là Phúc Ánh cùng Nam binh đã có những kỷ năng vốn có để tạo được quyền lực cho mình. Nguyễn vương thành lập Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm toàn người Quy Nhơn là mong được sử dụng lòng quả cảm, chí phục hận của họ. Tướng lĩnh của Quân Ngự Lâm hầu hết cũng là những người bỏ Nhà Tây Sơn theo về Gia Định, có người đã từng được trui rèn trong Quân Thần Sách, đội binh tinh nhuệ của Nguyễn vương. Có lẽ Nguyễn Ánh mong muốn trong quân thứ của mình, 5 đồn Quân Ngự Lâm sẽ trở thành quân hiệu ưu tú như 5 đồn Quân Thần Sách đã có. Sự thực đã không như mong muốn. Tháng 5 năm 1802, khi Nguyễn vương cho đổi Tả đồn của Lê Chất thành dinh Hậu quân, thay thế cho dinh Hậu quân của Võ Tánh đã tan nát, xem như năm tháng nầy là thời điểm kết thúc quân hiệu Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm.

            Sự thực lịch sử cũng đã ghi nhận là Nguyễn Phúc Ánh xuất phát từ Gia Định đi ra tới Thăng Long, lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu là Gia Long. Chuyện được hay mất của Ngũ Đồn Quân Ngự Lâm chỉ còn là chuyện thắng thua của những người vì bên nầy, bên kia, chuyện ai vì chủ ấy, nó chỉ được mổ xẻ trên bàn của những ai quan tâm đến kỷ thuật, nghệ thuật tranh giành quyền lực, định bá đồ vương. Cuộc chiến 1771 - 1802 đã gây không biết bao ly tán trong lòng người, can qua đã đem bi thương, rẽ phân đến với những người cùng chung một quân thứ, đôi khi với người cùng trong một mái nhà. ◙

 

Phụ chú:

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn thì các tướng lĩnh trông coi các Chi của Ngũ Đồn quân Ngự lâm lúc bấy giờ cụ thể như sau:

1)   Trung Đồn

Đô đốc Thái Văn Duật làm Trưởng chi Trung Chi, 

Tham đốc Lê Văn Tuy làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Chánh Tiền chi Tiền Quân là Nguyễn Văn Thiệu làm Trưởng chi Tiền Chi,

Đô đốc Nguyễn Văn Hoa làm Phó trưởng chi,

Chỉ huy Nguyễn Văn Tường làm Trưởng chi Tả Chi,

Đô đốc Võ Văn Tiến làm Phó trưởng chi,

Cai cơ Trần Văn Giáo làm Trưởng chi Hữu Chi,

Đô đốc Nguyễn Công Tùy làm Phó trưởng chi,

Chưởng cơ Nguyễn Văn Tứ làm Trưởng chi Hậu Chi,

Đô đốc Trần Văn Nhị làm Phó trưởng chi.


2)   Tiền Đồn

Đô đốc Đỗ Văn Trung làm Trưởng chi Trung Chi,

Đô ty Đỗ Văn Hậu làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Nguyễn Văn Cầu làm Trưởng chi Tiền Chi,

Đô úy Nguyễn Văn Đoan làm Phó trưởng chi,

Cai cơ Phó trưởng chi Chi Hùng Võ là Phạm Văn Hiếu làm Trưởng chi Tả Chi,

Đô ty Ngô Tòng Cù làm Phó trưởng chi,

Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Nguyễn Đồng làm Trưởng chi Hữu Chi,

Đô úy Đặng Văn Nghĩa làm Phó trưởng chi.


3)   Tả Đồn

Đô úy Giang Cảnh Thực làm Trưởng chi Trung Chi,

Tham đốc Đỗ Văn Pháp làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Võ Đình Duyên làm Trưởng chi Tiền Chi,

Đô úy Ngô Văn Vĩnh làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Ngô Văn Ngữ làm Trưởng chi Tả Chi,

Đô đốc Bùi Văn Bỉnh làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Hồ Văn Thiêm làm Trưởng chi Hữu Chi,

Đô úy Lương Văn Cương làm Phó trưởng chi, 

Đô đốc Ngô Văn Tuấn làm Trưởng chi Hậu Chi,

Đô ty Lương Văn Trạc làm Phó trưởng chi.


4)   Hữu Đồn

Đô ty Lê Văn Thụy làm Trưởng chi Trung Chi

Đô úy Võ Doãn Tư làm Phó trưởng chi,

Cựu Phó vệ Vệ Tiệp Võ của Tiền Quân là Phan Văn Vân làm Trưởng chi Tiền Chi,

Đô ty Trần Văn Trân làm Phó trưởng chi,

Cai cơ Tiền Quân là Hồ Hữu An làm Trưởng chi Tả Chi,

Đô úy Dương Văn Hiên làm Phó trưởng chi,

Đô úy Đinh Văn Tá làm Trưởng chi Hữu Chi,

Đô ty Đinh Văn Sĩ làm Phó trưởng chi,

Đô úy Nguyễn Văn Lân làm Trưởng chi Hậu Chi,

Quán quân Nguyễn Văn Tá làm Phó trưởng chi,


5)   Hậu Đồn

Đô đốc Võ Văn Sự làm Trưởng chi Trung Chi,

Cai đội Vệ Diệu Võ là Đặng Đức Bính làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Võ Văn Trung làm Trưởng chi Tiền Chi,

Đô úy Huỳnh Văn Luân làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Hà Văn Quảng làm Trưởng chi Tả Chi,

Cai cơ Nguyễn Văn Chinh làm Phó trưởng chi,

Đô đốc Nguyễn Bá Phong làm Trưởng chi Hữu Chi,

Đô úy Lữ Đắc Ngoạn làm Phó trưởng chi,

Khâm sai Thuộc nội Cai đội Vệ Định Võ của Tả Đồn quân Thần Sách là Lê Tiến Vạn làm Trưởng chi Hậu Chi,

Đô ty Phạm Văn Đơ làm Phó trưởng chi.

Rồi lấy Phó trưởng chi Tiền Chi của Trung Đồn là Nguyễn Văn Ba (Hoa) làm Chánh trưởng chi,

Cai cơ Nguyễn Mậu Trực làm Phó trưởng chi.


Chú thích:

(1)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 419

(2) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 421

(3)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 424

(4)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 434

(5)  Tập san Sử Địa, số 21, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1971, tr 144

(6)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 451

(7)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 460

(8)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 480

(9)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 525

(10)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 472

(11)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 433

(12)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 393

(13)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 423

(14)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 443

(15)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 443

(16)  Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 417