Mồng 5 tháng 5 âm lịch
hằng năm, người Việt thuở xưa coi như là một ngày lễ Tết, sự sum họp gia đình
không kém chi ngày Tết Nguyên đán. Lễ Tết nầy gọi là Tết giữa năm, Tết
giết sâu bọ. Vì chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nên người Việt còn gọi
Mồng 5 tháng 5 là Tết Đoan ngọ, Đoan ngũ, hay Trùng ngũ.
Đối với Người Hoa, Tết Đoan ngọ liên quan đến truyền thuyết ngày mất của Khuất
Nguyên. Cuối thời Chiến quốc, Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở với chức
Tam Lư đại phu được Sở Hoài Vương tin dùng, nhưng sau thất sủng vì vua nghe lời gièm pha của những kẻ đố kỵ.
Đến thời Khoảnh Tương Vương, ông bị vua đày
xuống phía Nam Trường giang. Tiếp đến, kinh đô Dĩnh của Sở bị quân Tần chiếm phá, thất chí, Khuất Nguyên trầm mình dưới
giòng Mịch La. Theo truyền lại, ông mất vào mồng 5 tháng Năm, từ đấy lấy ngày nầy
làm ngày tưởng nhớ ông.
Sơ lược Lịch pháp của Âu Tây
và Á Đông
Sau
thời kỳ săn bắn hái lượm là đến giai đoạn chăn nuôi trồng trọt, con người làm Lịch,
ghi và lưu lại chu kỳ thời tiết để theo đó mà học hỏi, đáp ứng nhu cầu của Nông
vụ. Cứ từ đêm tối chuyển qua sáng, đón nhận được ánh mặt trời
gọi là sang một ngày mới. Lịch pháp định nghĩa Ngày là đơn vị thời gian
tương đương thời gian Trái đất tự xoay quanh nó giáp một vòng, hệ đo lường quốc
tế SI (Système International d'unités) xác định Ngày bằng 24 giờ. Mỗi một mùa trăng trôi qua, xem là một Tháng.
Chuyển vận của mặt trời làm nên Ngày, chuyển vận của mặt trăng
làm nên Tháng. Thời
cổ đại, các nước trên thế giới đều lấy 10 tháng của tuần Trăng cấu thành một Năm. Về sau phát hiện ra chu kỳ một năm 10 tháng không đúng với chu kỳ tuần hoàn của thời tiết, người
xưa điều chỉnh lại
chu kỳ một năm có 12 tháng. Dấu vết điều chỉnh như bên trời Tây
tháng 10 và 11 tiếng Anh là October, November, trong khi gốc của tiếng La Tinh:
Octo nghĩa là thứ 8, Novem nghĩa là thứ 9. Vốn xưa lịch Cộng hòa La Mã gồm 10
tháng là tháng Martius, Aprilis, Maius, Junius, Quintilis, Sextilis, September,
October, November và December.(1)
Còn với người Việt, 2 tháng được thêm vào là tháng Chạp và tháng Giêng, nên ngày xưa tháng được đọc theo thứ tự là Một, Chạp,
Giêng, Hai cho
Bên trời Tây cải tiến Lịch theo chuyển vận biểu kiến của mặt trời. Tháng
không dựa theo tuần trăng mà quy ước một năm 12 tháng, quy ước số ngày trong mỗi
tháng sao cho một năm đủ 365 ngày là được. Thuật ngữ Năm Chí Tuyến
(tropical year) hay Năm Hồi quy, lịch pháp định nghĩa là đơn vị thời
gian tương đương thời gian Trái đất quay giáp một vòng quanh Mặt trời được 365,24220 ngày,(2)
là thời gian Trái đất quay trở lại đúng vị trí ban đầu trên mặt phẳng chứa quỹ
đạo Trái đất trong Thiên cầu. Mặt phẳng này gọi là mặt
phẳng Hoàng đạo.
Trong phép
làm lịch, Ngày được lấy tròn, không thể tính số lẻ. Lấy tròn 1 Năm có 365 Ngày,
thì với số dư 0,24220 ngày khi qua 4
năm gộp lại được gần 1 Ngày. Nói đúng hơn cứ 400 năm thì dư ra gần 97 ngày. Vì vậy quy ước cứ 4 năm, trong đó có
một năm gọi là Năm nhuận, được thêm 1 ngày thành 366 ngày, nên nhuận theo Lịch
Dương là nhuận ngày. Các nhà làm lịch quy định là thêm ngày nhuận đó cho tháng
2, thành thử vào tháng 2 năm nhuận có 29 ngày, thay vì bình thường là 28 ngày.
Những năm nhuận của Lịch Dương là năm chia chẵn cho 4, và là những năm đầu thế
kỷ chia chẵn cho 400.
Ở phương Đông
sử dụng Lịch tuần Trăng, qua đó Tháng và Ngày là hiện tượng thiên nhiên. Ngày
Sóc là ngày không Trăng đầu tháng, Ngày Vọng là ngày Trăng tròn giữa
tháng, là những ngày xảy ra hiện tượng giao hội của Hoàng đạo và Bạch
đạo trong thiên cầu (mặt phẳng chứa quỹ đạo Mặt trăng đi quanh Trái đất
trong Thiên cầu gọi là mặt phẳng Bạch đạo).
Trong thiên văn học, Tháng Sóc Vọng (còn gọi là Tháng
Giao Hội), là độ dài chu kỳ thời gian Mặt trăng trở lại cùng một vị trí
tương đối so với Mặt trời trong thiên cầu (hiện tượng giao hội của Hoàng đạo và
Bạch đạo). Do có sự nhiễu loạn của lực hấp dẫn từ các thiên thể trong Thái
Dương hệ mà độ dài nó dao động từ 29,27
ngày tới 29,83 ngày. Các nhà Thiên
văn học ngày nay xác định trung bình là 29,53059
ngày.(2)
Trong phép
làm lịch, tính được các thời điểm xảy ra giao hội giữa Hoàng đạo và Bạch đạo là
xác định được ngày mồng Một của mỗi tháng. Khoảng thời gian giữa các ngày đó,
xem xét nó là 29 hay 30 ngày mà tính cho tháng đó thiếu hay đủ. Tháng âm lịch
có thể có 2 tháng thiếu liên tục, có năm xảy ra 3 tháng đủ liên tục.
Nếu năm Âm lịch
được cấu thành từ 12 tháng Sóc Vọng thì độ dài của năm là:
12 x 29,53059 = 354,36708 ngày.
So với Năm Hồi Quy (365,24220 ngày) thiếu gần 11 ngày
Vậy nếu lấy 12 Tuần Trăng cấu thành
1 năm, thì 354,3672 ngày chưa đủ để giáp năm. Còn nếu lấy 13 Tuần Trăng
cấu thành 1 năm, thì độ dài của năm:
13 x 29,53059 = 383,89767 ngày
So với Năm Hồi Quy (365,24220 ngày) thì hơn 18 ngày.
Để khắc phục
sự thiếu hụt năm Âm lịch so với chu kỳ khí hậu, năm Âm lịch được thiết lập trên
cơ sở 12 tháng, khi qua đến năm thứ 2 thì năm đó thiếu mất 22
ngày. Đến năm thứ 3 thiếu 33 ngày, có nghĩa là hơn 1 tháng. Các nhà làm lịch
tính thêm vào 1 tháng cho năm nầy làm tháng nhuận, phần còn dư sẽ tính vào chu
trình kế tiếp. Do đó Nhuận lịch Âm gọi là Nhuận tháng.
Vào thời cổ, các nhà làm lịch Á Đông đã tìm được chu trình 19 năm thêm 7 tháng nhuận, số ngày các năm Âm
lịch gộp lại sẽ tiến gần số ngày Năm Hồi Quy tương ứng. Về sau nhà thiên văn cổ
phương Tây của đất nước Hy Lạp là Meton cũng tính được chu
trình nầy. Hiện giờ người ta gọi chu trình đó là chu trình Meton.(3) Sơ lược chu trình trên như sau:
Bội số chung
nhỏ nhất cho số ngày của tháng Sóc Vọng và số ngày Năm Hồi Quy là đẳng thức xác
lập trên độ dài Năm Hồi Quy và Chu kỳ tuần trăng:
m x 365,24220 = n x 29,53059
đó chính là tỷ lệ :
Giá trị tối
giản gần đúng của tỷ lệ trên lần lượt là :
Các phân số
trên là chu trình có Tử số thể hiện số Năm Hồi Quy, Mẫu số thể hiện số Tháng Sóc Vọng. Chu trình càng lớn, sai số
càng nhỏ. Ví dụ
với phân số thứ 6 là:
Nó có ý nghĩa là tỷ lệ 19 Năm Hồi Quy với 235 Tháng Sóc vọng (19 năm Âm lịch thêm 7 tháng nhuận), là tỷ lệ
tối giản có sai
số 0,08685 ngày:
19 Năm Hồi Quy có: 19 x 365,24220 = 6939,60180 ngày
235 Tháng SócVọng có: 235 x 29,53059 = 6939,68865 ngày
Qua 19 năm,
sai số chỉ dao động trong khoảng gần 2 giờ 10 phút, tạm gọi là chính xác, bảo đảm
sự phối hợp chu kỳ Tuần Trăng hài hòa với Chu kỳ của chuyển vận Mặt trời,
nghĩa là chu kỳ tuần hoàn của khí hậu, thời tiết. Người
xưa đã chấp nhận quy tắc nầy trong phép làm Lịch Ta. Với
chu trình 19 năm trong đó đặt 7 năm nhuận (gọi là một chương), Lịch Ta đặt nhuận
vào các năm thứ 3, 6, 8 hoặc 9, 11, 14, 17, 19 của chu
trình.
Trong thực tế làm Lịch hiện nay, chỉ cần xem
khoảng cách điểm Sóc trước ngày Đông Chí thứ nhất với điểm Sóc trước ngày Đông
Chí thứ hai (ngày
Đông Chí bao giờ cũng ở vào tháng 11 âm lịch). Nếu
khoảng cách nầy nhỏ hơn 365 ngày, năm ấy có 12 tháng Âm lịch. Còn khoảng cách ấy
lớn hơn 365 ngày, năm đó có 13 tháng Âm lịch, có nghĩa là năm ấy nhuận. Trong
13 tháng nầy, quy định
tháng nào không có chứa ngày Trung Khí, người xưa bố trí tháng đó làm tháng nhuận.
Ngày Trung
khí là ngày Khí của Tiết Khí, gọi vậy vì nó nằm giữa 2 ngày Tiết. Chúng gồm 4
ngày Xuân Phân, Thu Phân, Đông Chí, Hạ Chí, và 8 ngày khác là các ngày Cốc Vũ,
Vũ Thủy, Đại Thử, Xử Thử, Tiểu Tuyết, Đại Hàn, Sương Giáng, Tiểu Mãn.
Tên của tháng nhuận được gọi theo tên tháng trước nó, kèm thêm từ “nhuận”. Lịch tuần Trăng phối hợp với yếu tố Tiết khí (Tiết khí chính là ngày Dương lịch), là cấu thành tuần hoàn của chuyển vận mặt trời làm nên một
năm, để trở thành Âm Dương Lịch có nhuận tháng.
Khi một năm có 10 tháng thì hiển
nhiên tháng 5 là giữa năm. Lúc lịch cải tiến thành 12 tháng, phải xem lại đầu
năm ngày xưa là tháng nào.
Theo ca dao còn truyền, tháng 11 âm lịch hiện nay người xưa gọi là tháng Một.
Còn dựa vào tháng Can Chi, tháng 11 âm lịch ngày nay được xưa gọi là tháng Tý,
nghĩa là lấy Chi đầu tiên của Thập nhị Chi đặt tên cho tháng, tức là tháng đầu
tiên của năm. Đất nước Trung Hoa từ xưa, nhà Chu lấy tháng Tý làm tháng chính
Sóc khởi đầu cho một năm, nhà Hán ăn Tết Nguyên Đán tháng Dần (Việt Nam gọi là
tháng Giêng) nên từ đấy gọi là ăn Tết theo Lịch kiến Dần. Xét sự tích Bánh
Chưng Bánh Dầy thì người Việt đã biết ăn Tết vào thời thái cổ. Không loại
trừ người Việt cổ ăn Tết Nguyên Đán theo Lịch kiến Tý, tức là ăn Tết vào
tháng Tý, tức cũng là tháng 11 hiện nay. Thời Tự Đức, Đại Nam nhất thống chí Viện Sử học dịch:
+ Thổ dân ở các huyện Bất Bạt
và Mỹ Lương, hằng năm lấy tháng 11 làm đầu năm, hàng tháng lấy ngày mồng 2 làm
đầu tháng và lấy ngày mồng 1 làm cuối tháng, gọi là tháng lùi ngày tiến, lại gọi
là “ngày nội”, dùng trong dân gian, còn ngày quan, lịch gọi
là “ngày ngoại”, chỉ dùng khi có việc quan.(4)
Xét ra vậy thì cổ xưa khi Lịch cải
tiến 12 tháng, tháng đầu năm của người Việt là tháng Tý (tháng 11). Tính Một Chạp
Giêng Hai đến tháng Năm là tháng Ngọ, thì tháng Năm là tháng thứ Bảy cũng là
tháng giữa năm.
Vì sao lại ăn Tết giữa năm
Là dân nông nghiệp lúa nước, người Việt từ xưa có câu ca:
Tháng Chạp là tháng trồng
khoai,
Tháng Giêng trồng đậu, tháng
Hai trồng cà.
Tháng Ba cày vỡ ruộng ra,
Tháng Tư làm mạ mưa sa đầy đồng.
Tháng Năm gặt hái đã xong,
Nhờ trời một mẫu năm nong thóc
đầy…
Tháng Tư làm
mạ để chuẩn bị cho vụ Mùa, trong khi bước qua tháng Năm lại là tháng thu hoạch
vụ Chiêm. Trải nghiệm trồng trỉa lâu đời của người Việt, sau cây mưa thường có
vào tiết Tiểu Mãn hằng năm (ngày 21 tháng 5 DL), là tới tiết Mang Chủng (ngày 5
hoặc 6 tháng 6 DL) tức thời điểm phải xuống giống, hoặc cấy hoặc gieo. Khoảng
thời gian nầy, xét vào lịch đã cải tiến theo Tiết khí, biên độ xê dịch của ngày
Mồng 5 tháng 5 âm lịch bao giờ cũng xoay quanh, hoặc trước hoặc sau tiết Mang
Chủng. Như vậy ăn mừng vào giữa năm, xem như là lễ Tết, là mừng đã thu hoạch
xong vụ Chiêm, mừng đã xuống được giống vụ Mùa.
Người Việt xưa đã ăn Tết giữa
năm ra sao
Nghề
Nông ngày xưa khi thời vụ đến, cần phải tập trung lao động mới đáp ứng kịp thời
vụ, rồi xuống giống được là ăn mừng. Do vậy Tết giữa năm ngày xưa là ngày đoàn
tụ của anh em, con cháu trong nhà. Nếp xưa để lại, khi Cao Bá Quát làm một ông
quan nhỏ bé ở Huế không về được với gia đình trong ngày Đoan Ngọ, trong bài thơ
Đoan Dương (端陽), ông đã thốt:
漠漠家鄉兩親隔,
栖栖羇宦一兄遙。
Trang Thi viện phiên âm:
Mạc mạc gia hương lưỡng thân
cách,
Thê thê ky hoạn nhất huynh
dao…
Tạm dịch:
Mờ mịt quê nhà xa phụ mẫu
Lăng xăng đất khách cách bào
huynh…
Trong ngày Tết
Đoan ngọ xưa, vì mới vừa thu hoạch mùa màng nên chú Rể có tục mừng Cơm Mới
cho gia đình vợ sắp cưới. Học trò còn có tục Sêu Tết cho Thầy dạy, lương
phạn của Thầy Đồ xưa chỉ nhờ vào thu hoạch suất ruộng công điền cấp cho mà tự
canh tác.
Tết Đoan ngọ
người Việt thường dùng rượu nhẹ như rượu nếp, hoặc rượu ngâm thảo dược như thạch
xương bồ, uống để điều hòa khí huyết trước thời tiết vừa mưa to, vừa nắng gắt
thường xảy ra các bệnh thời khí của tháng 5. Sách thuốc xưa mô tả Thạch xương bồ
là “loại cỏ trên đá, một tấc 9 cành, làm
thuốc rất hay”. Có lẽ vậy mà ngày Đoan ngọ xưa dân gian đã có tục uống rượu
gọi
Ngày Đoan Ngọ Học trò đi Sêu Tết
Hoặc là vào
ngày nầy, mọi người thường đi hái lá thuốc về tắm rửa cho thông huyết mạch,
tránh cảm mạo trong tiết Đoan dương. Người Việt xưa còn lấy lá ngải bện hình
nhân, năm con gì thì bện hình con ấy theo thập nhị chi, hoặc đơn giản
treo rổ lá trước cửa để ngăn khí độc vào ngày Đoan ngọ. Kiểu dùng tơ ngũ sắc buộc
vào cánh tay, mặc áo dấu, cột chỉ ngũ sắc vào bánh, gọi là dùng cúng cho Khuất
Nguyên… chúng vốn là những tập tục được du nhập theo hướng trừ ma, trấn quỷ
mang màu sắc tà thần, theo như mô tả của Ức Trai Nguyễn Trãi trong bài thơ Ngày
Đoan Ngọ – Đoan Ngọ Nhựt :
端午日
闢邪不用絲纏臂
隨俗聊為艾結人。
願把蘭湯分四海,
從今澡雪舊污民。
Trang Thi viện phiên âm:
Tịch tà bất dụng ti triền tý,
Tùy tục liêu vi ngải kết nhân.
Nguyện bả lan thang phân tứ hải,
Tòng kim táo tuyết cựu ô dân.
Tạm hiểu nghĩa:
Không dùng chỉ ngũ sắc buộc ở
cánh tay để trừ tà
Tạm lấy lá ngải bện thành hình
nhân theo phong tục
Nguyện mang nước thơm mộc lan
rải chia bốn biển
Để từ nay rửa sạch cái ô nhục
trước đây của tứ dân.
Ngày
Đoan Ngọ, người xưa treo rổ lá
Tết Đoan ngọ.
Xét vào cái thuở mà nước nôi đều trông cậy vào thiên nhiên, kỹ thuật canh tác
trông chờ vào mưa nắng… thu được mùa, xuống được giống, sao lại chẳng ăn mừng. Ăn
mừng vào mồng 5 tháng 5 âm lịch là Ăn cái Tết giữa năm. Ăn Tết thì đâu chỉ
riêng tưởng nhớ người đã trầm mình xuống giòng Mịch La, cũng đâu phải để nhắc đến
chuyện mấy anh đi hái thuốc vô tình lạc bước chốn thiên thai. Với giao thoa văn
hóa Việt Hoa, những mắm muối ấy chỉ là những gia vị nêm thêm vào món ăn đã sẵn
có.
Theo quan niệm
của người xưa, ngày mồng 5 tháng 5 là ngày giết trùng bọ. Với ngày nay, những
con sâu con bọ trong tâm, con người nên tự mình giết nó trước đi. ◙
Chú Thích:
(1) Website
https://www.dictionary.com/e/october/, Tên gọi October xuất phái từ đâu,
ngày 30.9.2021
(2) Tr 8 Tìm Hiểu Âm Lịch Nước Ta
(3) Tr
9 Tìm Hiểu Âm
Lịch Nước Ta
(4) Tr 236 Đại Nam nhất thống chí tập IV
Tham Khảo:
+ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam Nhất Thống Chí, Nxb Thuận Hóa 2006
+ Nguyễn Xiển, Nguyễn Mậu Tùng… Tìm
Hiểu Âm Lịch Nước Ta, Nxb Khoa Học Kỹ Thuật 1985
+ Nguyễn Mạnh Linh, Nghiên Cứu
Lịch Vạn Niên, Nxb Tự Điển Bách Khoa 2006
v

