Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

TẾT GIỮA NĂM VÀ PHÉP LÀM LỊCH CỦA NGƯỜI VIỆT

 


           Mồng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm, người Việt thuở xưa coi như là một ngày lễ Tết, sự sum họp gia đình không kém chi ngày Tết Nguyên đán. Lễ Tết nầy gọi là Tết giữa năm, Tết giết sâu bọ. Vì chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nên người Việt còn gọi Mồng 5 tháng 5 là Tết Đoan ngọ, Đoan ngũ, hay Trùng ngũ.

          Đối với Người Hoa, Tết Đoan ngọ liên quan đến truyền thuyết ngày mất của Khuất Nguyên. Cuối thời Chiến quốc, Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở với chức Tam Lư đại phu được Sở Hoài Vương tin dùng, nhưng sau thất sủng vì vua nghe lời gièm pha của những kẻ đố kỵ. Đến thời Khoảnh Tương Vương, ông bị vua đày xuống phía Nam Trường giang. Tiếp đến, kinh đô Dĩnh của Sở bị quân Tần chiếm phá, thất chí, Khuất Nguyên trầm mình dưới giòng Mịch La. Theo truyền lại, ông mất vào mồng 5 tháng Năm, từ đấy lấy ngày nầy làm ngày tưởng nhớ ông.

            Nếu xét theo Hán ngữ, Trùng ngũ [重五] tháng và ngày đều cùng con số 5. Còn Đoan ngũ [] hoặc Đoan ngọ [端午], theo Giáp cốt văn, Đoan [] có hình ảnh người đứng trước núi cúng tế, biểu thị đầu mối của khởi nguyên. Ngũ nguyệt hay Ngọ nguyệt là tháng 5, tháng có khí dương khởi phát, vì vậy ngày Mồng 5 tháng 5  còn gọi là ngày Đoan dương [端陽]. Xét vậy thì Trùng ngũ, Đoan ngũ hay Đoan ngọ liên quan đến năm, tháng, ngày, giờ. Nghĩa là liên quan đến sự chuyển vận của đơn vị thời gian, cũng tức là liên quan đến phép làm Lịch.

Sơ lược Lịch pháp của Âu Tây và Á Đông

            Sau thời kỳ săn bắn hái lượm là đến giai đoạn chăn nuôi trồng trọt, con người làm Lịch, ghi và lưu lại chu kỳ thời tiết để theo đó mà học hỏi, đáp ứng nhu cầu của Nông vụ. Cứ từ đêm tối chuyển qua sáng, đón nhận được ánh mặt trời gọi là sang một ngày mới. Lịch pháp định nghĩa Ngày là đơn vị thời gian tương đương thời gian Trái đất tự xoay quanh nó giáp một vòng, hệ đo lường quốc tế SI (Système International d'unités) xác định Ngày bằng 24 giờ. Mỗi một mùa trăng trôi qua, xem là một Tháng.

            Chuyển vận của mặt trời làm nên Ngày, chuyển vận của mặt trăng làm nên Tháng. Thời cổ đại, các nước trên thế giới đều lấy 10 tháng của tuần Trăng cấu thành một Năm. Về sau phát hiện ra chu kỳ một năm 10 tháng không đúng với chu kỳ tuần hoàn của thời tiết, người xưa điều chỉnh lại chu kỳ một năm có 12 tháng. Dấu vết điều chỉnh như bên trời Tây tháng 10 và 11 tiếng Anh là October, November, trong khi gốc của tiếng La Tinh: Octo nghĩa là thứ 8, Novem nghĩa là thứ 9. Vốn xưa lịch Cộng hòa La Mã gồm 10 tháng là tháng Martius, Aprilis, Maius, Junius, Quintilis, Sextilis, September, October, November và December.(1) Còn với người Việt, 2 tháng được thêm vào là tháng Chạp và tháng Giêng, nên ngày xưa tháng được đọc theo thứ tự là Một, Chạp, Giêng, Hai cho đến Mười.

            Bên trời Tây cải tiến Lịch theo chuyển vận biểu kiến của mặt trời. Tháng không dựa theo tuần trăng mà quy ước một năm 12 tháng, quy ước số ngày trong mỗi tháng sao cho một năm đủ 365 ngày là được. Thuật ngữ Năm Chí Tuyến (tropical year) hay Năm Hồi quy, lịch pháp định nghĩa là đơn vị thời gian tương đương thời gian Trái đất quay giáp một vòng quanh Mặt trời được 365,24220 ngày,(2) là thời gian Trái đất quay trở lại đúng vị trí ban đầu trên mặt phẳng chứa quỹ đạo Trái đất trong Thiên cầu. Mặt phẳng này gọi là mặt phẳng Hoàng đạo.

            Trong phép làm lịch, Ngày được lấy tròn, không thể tính số lẻ. Lấy tròn 1 Năm có 365 Ngày, thì với số dư 0,24220 ngày khi qua 4 năm gộp lại được gần 1 Ngày. Nói đúng hơn cứ 400 năm thì dư ra gần 97 ngày. Vì vậy quy ước cứ 4 năm, trong đó có một năm gọi là Năm nhuận, được thêm 1 ngày thành 366 ngày, nên nhuận theo Lịch Dương là nhuận ngày. Các nhà làm lịch quy định là thêm ngày nhuận đó cho tháng 2, thành thử vào tháng 2 năm nhuận có 29 ngày, thay vì bình thường là 28 ngày. Những năm nhuận của Lịch Dương là năm chia chẵn cho 4, và là những năm đầu thế kỷ chia chẵn cho 400.

            Ở phương Đông sử dụng Lịch tuần Trăng, qua đó Tháng và Ngày là hiện tượng thiên nhiên. Ngày Sóc là ngày không Trăng đầu tháng, Ngày Vọng là ngày Trăng tròn giữa tháng, là những ngày xảy ra hiện tượng giao hội của Hoàng đạoBạch đạo trong thiên cầu (mặt phẳng chứa quỹ đạo Mặt trăng đi quanh Trái đất trong Thiên cầu gọi là mặt phẳng Bạch đạo).

Trong thiên văn học, Tháng Sóc Vọng (còn gọi là Tháng Giao Hội), là độ dài chu kỳ thời gian Mặt trăng trở lại cùng một vị trí tương đối so với Mặt trời trong thiên cầu (hiện tượng giao hội của Hoàng đạo và Bạch đạo). Do có sự nhiễu loạn của lực hấp dẫn từ các thiên thể trong Thái Dương hệ mà độ dài nó dao động từ 29,27 ngày tới 29,83 ngày. Các nhà Thiên văn học ngày nay xác định trung bình là 29,53059 ngày.(2)

            Trong phép làm lịch, tính được các thời điểm xảy ra giao hội giữa Hoàng đạo và Bạch đạo là xác định được ngày mồng Một của mỗi tháng. Khoảng thời gian giữa các ngày đó, xem xét nó là 29 hay 30 ngày mà tính cho tháng đó thiếu hay đủ. Tháng âm lịch có thể có 2 tháng thiếu liên tục, có năm xảy ra 3 tháng đủ liên tục.

Nếu năm Âm lịch được cấu thành từ 12 tháng Sóc Vọng thì độ dài của năm:

12 x 29,53059 = 354,36708 ngày.

So với Năm Hồi Quy (365,24220 ngày) thiếu gần 11 ngày

Vậy nếu lấy 12 Tuần Trăng cấu thành 1 năm, thì 354,3672 ngày chưa đủ để giáp năm. Còn nếu lấy 13 Tuần Trăng cấu thành 1 năm, thì độ dài của năm:

13 x 29,53059 = 383,89767 ngày

So với Năm Hồi Quy (365,24220 ngày) thì hơn 18 ngày.

Để khắc phục sự thiếu hụt năm Âm lịch so với chu kỳ khí hậu, năm Âm lịch được thiết lập trên cơ sở 12 tháng, khi qua đến năm thứ 2 thì năm đó thiếu mất 22 ngày. Đến năm thứ 3 thiếu 33 ngày, có nghĩa là hơn 1 tháng. Các nhà làm lịch tính thêm vào 1 tháng cho năm nầy làm tháng nhuận, phần còn dư sẽ tính vào chu trình kế tiếp. Do đó Nhuận lịch Âm gọi là Nhuận tháng.

            Vào thời cổ, các nhà làm lịch Á Đông đã tìm được chu trình 19 năm thêm 7 tháng nhuận, số ngày các năm Âm lịch gộp lại sẽ tiến gần số ngày Năm Hồi Quy tương ứng. Về sau nhà thiên văn cổ phương Tây của đất nước Hy Lạp là Meton cũng tính được chu trình nầy. Hiện giờ người ta gọi chu trình đó là chu trình Meton.(3) Sơ lược chu trình trên như sau:

Bội số chung nhỏ nhất cho số ngày của tháng Sóc Vọng và số ngày Năm Hồi Quy là đẳng thức xác lập trên độ dài Năm Hồi Quy và Chu kỳ tuần trăng:

m  x  365,24220 =  n  x  29,53059

đó chính là tỷ lệ :

Giá trị tối giản gần đúng của tỷ lệ trên lần lượt là :

Các phân số trên là chu trình có Tử số thể hiện số Năm Hồi Quy, Mẫu số thể hiện số Tháng Sóc Vọng. Chu trình càng lớn, sai số càng nhỏ. Ví dụ với phân số thứ 6 là:

            Nó có ý nghĩa là tỷ lệ 19 Năm Hồi Quy với 235 Tháng Sóc vọng (19 năm Âm lịch thêm 7 tháng nhuận), là tỷ lệ tối giản có sai

số 0,08685 ngày:

19  Năm Hồi Quy:     19  x  365,24220  =   6939,60180 ngày

235 Tháng SócVọng : 235  x  29,53059  =   6939,68865 ngày

Qua 19 năm, sai số chỉ dao động trong khoảng gần 2 giờ 10 phút, tạm gọi là chính xác, bảo đảm sự phối hợp chu kỳ Tuần Trăng hài hòa với Chu kỳ của chuyển vận Mặt trời, nghĩa là chu kỳ tuần hoàn của khí hậu, thời tiết. Người xưa đã chấp nhận quy tắc nầy trong phép làm Lịch Ta. Với chu trình 19 năm trong đó đặt 7 năm nhuận (gọi là một chương), Lịch Ta đặt nhuận vào các năm thứ 3, 6, 8 hoặc 9, 11, 14, 17, 19 của chu trình.

            Trong thực tế làm Lịch hiện nay, chỉ cần xem khoảng cách điểm Sóc trước ngày Đông Chí thứ nhất với điểm Sóc trước ngày Đông Chí thứ hai (ngày Đông Chí bao giờ cũng ở vào tháng 11 âm lịch). Nếu khoảng cách nầy nhỏ hơn 365 ngày, năm ấy có 12 tháng Âm lịch. Còn khoảng cách ấy lớn hơn 365 ngày, năm đó có 13 tháng Âm lịch, có nghĩa là năm ấy nhuận. Trong 13 tháng nầy, quy định tháng nào không có chứa ngày Trung Khí, người xưa bố trí tháng đó làm tháng nhuận.

Ngày Trung khí là ngày Khí của Tiết Khí, gọi vậy vì nó nằm giữa 2 ngày Tiết. Chúng gồm 4 ngày Xuân Phân, Thu Phân, Đông Chí, Hạ Chí, và 8 ngày khác là các ngày Cốc Vũ, Vũ Thủy, Đại Thử, Xử Thử, Tiểu Tuyết, Đại Hàn, Sương Giáng, Tiểu Mãn.

            Tên của tháng nhuận được gọi theo tên tháng trước nó, kèm thêm từ “nhuận”. Lịch tuần Trăng phối hợp với yếu tố Tiết khí (Tiết khí chính là ngày Dương lịch), là cấu thành tuần hoàn của chuyển vận mặt trời làm nên một năm, để trở thành Âm Dương Lịch có nhuận tháng.


 Vì sao người Việt gọi Tháng Năm âm lịch là giữa năm

            Khi một năm có 10 tháng thì hiển nhiên tháng 5 là giữa năm. Lúc lịch cải tiến thành 12 tháng, phải xem lại đầu năm ngày xưa là tháng nào.

            Theo ca dao còn truyền, tháng 11 âm lịch hiện nay người xưa gọi là tháng Một. Còn dựa vào tháng Can Chi, tháng 11 âm lịch ngày nay được xưa gọi là tháng Tý, nghĩa là lấy Chi đầu tiên của Thập nhị Chi đặt tên cho tháng, tức là tháng đầu tiên của năm. Đất nước Trung Hoa từ xưa, nhà Chu lấy tháng Tý làm tháng chính Sóc khởi đầu cho một năm, nhà Hán ăn Tết Nguyên Đán tháng Dần (Việt Nam gọi là tháng Giêng) nên từ đấy gọi là ăn Tết theo Lịch kiến Dần. Xét sự tích Bánh Chưng Bánh Dầy thì người Việt đã biết ăn Tết vào thời thái cổ. Không loại trừ người Việt cổ ăn Tết Nguyên Đán theo Lịch kiến Tý, tức là ăn Tết vào tháng Tý, tức cũng là tháng 11 hiện nay. Thời Tự Đức, Đại Nam nhất thống chí Viện Sử học dịch:

Thổ dân ở các huyện Bất Bạt và Mỹ Lương, hằng năm lấy tháng 11 làm đầu năm, hàng tháng lấy ngày mồng 2 làm đầu tháng và lấy ngày mồng 1 làm cuối tháng, gọi là tháng lùi ngày tiến, lại gọi là “ngày nội”, dùng trong dân gian, còn ngày quan, lịch gọi là “ngày ngoại”, chỉ dùng khi có việc quan.(4)

            Xét ra vậy thì cổ xưa khi Lịch cải tiến 12 tháng, tháng đầu năm của người Việt là tháng Tý (tháng 11). Tính Một Chạp Giêng Hai đến tháng Năm là tháng Ngọ, thì tháng Năm là tháng thứ Bảy cũng là tháng giữa năm.

Vì sao lại ăn Tết giữa năm

Là dân nông nghiệp lúa nước, người Việt từ xưa có câu ca:

Tháng Chạp là tháng trồng khoai,

Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.

Tháng Ba cày vỡ ruộng ra,

Tháng Tư làm mạ mưa sa đầy đồng.

Tháng Năm gặt hái đã xong,

Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy…

            Tháng Tư làm mạ để chuẩn bị cho vụ Mùa, trong khi bước qua tháng Năm lại là tháng thu hoạch vụ Chiêm. Trải nghiệm trồng trỉa lâu đời của người Việt, sau cây mưa thường có vào tiết Tiểu Mãn hằng năm (ngày 21 tháng 5 DL), là tới tiết Mang Chủng (ngày 5 hoặc 6 tháng 6 DL) tức thời điểm phải xuống giống, hoặc cấy hoặc gieo. Khoảng thời gian nầy, xét vào lịch đã cải tiến theo Tiết khí, biên độ xê dịch của ngày Mồng 5 tháng 5 âm lịch bao giờ cũng xoay quanh, hoặc trước hoặc sau tiết Mang Chủng. Như vậy ăn mừng vào giữa năm, xem như là lễ Tết, là mừng đã thu hoạch xong vụ Chiêm, mừng đã xuống được giống vụ Mùa.

 

Người Việt xưa đã ăn Tết giữa năm ra sao

            Nghề Nông ngày xưa khi thời vụ đến, cần phải tập trung lao động mới đáp ứng kịp thời vụ, rồi xuống giống được là ăn mừng. Do vậy Tết giữa năm ngày xưa là ngày đoàn tụ của anh em, con cháu trong nhà. Nếp xưa để lại, khi Cao Bá Quát làm một ông quan nhỏ bé ở Huế không về được với gia đình trong ngày Đoan Ngọ, trong bài thơ Đoan Dương (端陽), ông đã thốt:

漠漠家鄉兩親隔

栖栖羇宦一兄遙

Trang Thi viện phiên âm:

Mạc mạc gia hương lưỡng thân cách,

Thê thê ky hoạn nhất huynh dao…

Tạm dịch:

Mờ mịt quê nhà xa phụ mẫu

Lăng xăng đất khách cách bào huynh…

            Trong ngày Tết Đoan ngọ xưa, vì mới vừa thu hoạch mùa màng nên chú Rể có tục mừng Cơm Mới cho gia đình vợ sắp cưới. Học trò còn có tục Sêu Tết cho Thầy dạy, lương phạn của Thầy Đồ xưa chỉ nhờ vào thu hoạch suất ruộng công điền cấp cho mà tự canh tác.

            Tết Đoan ngọ người Việt thường dùng rượu nhẹ như rượu nếp, hoặc rượu ngâm thảo dược như thạch xương bồ, uống để điều hòa khí huyết trước thời tiết vừa mưa to, vừa nắng gắt thường xảy ra các bệnh thời khí của tháng 5. Sách thuốc xưa mô tả Thạch xương bồ là “loại cỏ trên đá, một tấc 9 cành, làm thuốc rất hay”. Có lẽ vậy mà ngày Đoan ngọ xưa dân gian đã có tục uống rượu gọi là để diệt trùng bọ ở trong người, nên Tết nầy người Việt đã gọi là “Tết Giết Sâu Bọ”.

Ngày Đoan Ngọ Học trò đi Sêu Tết

Không có mô tả ảnh.

            Hoặc là vào ngày nầy, mọi người thường đi hái lá thuốc về tắm rửa cho thông huyết mạch, tránh cảm mạo trong tiết Đoan dương. Người Việt xưa còn lấy lá ngải bện hình nhân, năm con gì thì bện hình con ấy theo thập nhị chi, hoặc đơn giản treo rổ lá trước cửa để ngăn khí độc vào ngày Đoan ngọ. Kiểu dùng tơ ngũ sắc buộc vào cánh tay, mặc áo dấu, cột chỉ ngũ sắc vào bánh, gọi là dùng cúng cho Khuất Nguyên… chúng vốn là những tập tục được du nhập theo hướng trừ ma, trấn quỷ mang màu sắc tà thần, theo như mô tả của Ức Trai Nguyễn Trãi trong bài thơ Ngày Đoan Ngọ Đoan Ngọ Nhựt :

端午日

闢邪不用絲纏臂

隨俗聊為艾結人

願把蘭湯分四海

從今澡雪舊污民

Trang Thi viện phiên âm:

Tịch tà bất dụng ti triền tý,

Tùy tục liêu vi ngải kết nhân.

Nguyện bả lan thang phân tứ hải,

Tòng kim táo tuyết cựu ô dân.

Tạm hiểu nghĩa:

Không dùng chỉ ngũ sắc buộc ở cánh tay để trừ tà

Tạm lấy lá ngải bện thành hình nhân theo phong tục

Nguyện mang nước thơm mộc lan rải chia bốn biển

Để từ nay rửa sạch cái ô nhục trước đây của tứ dân.

Ngày Đoan Ngọ, người xưa treo rổ lá

Không có mô tả ảnh.

            Tết Đoan ngọ. Xét vào cái thuở mà nước nôi đều trông cậy vào thiên nhiên, kỹ thuật canh tác trông chờ vào mưa nắng… thu được mùa, xuống được giống, sao lại chẳng ăn mừng. Ăn mừng vào mồng 5 tháng 5 âm lịch là Ăn cái Tết giữa năm. Ăn Tết thì đâu chỉ riêng tưởng nhớ người đã trầm mình xuống giòng Mịch La, cũng đâu phải để nhắc đến chuyện mấy anh đi hái thuốc vô tình lạc bước chốn thiên thai. Với giao thoa văn hóa Việt Hoa, những mắm muối ấy chỉ là những gia vị nêm thêm vào món ăn đã sẵn có.

            Theo quan niệm của người xưa, ngày mồng 5 tháng 5 là ngày giết trùng bọ. Với ngày nay, những con sâu con bọ trong tâm, con người nên tự mình giết nó trước đi. ◙

 

 Phan Trường Nghị


Chú Thích:

(1)   Website https://www.dictionary.com/e/october/, Tên gọi October xuất phái từ đâu, ngày 30.9.2021

(2)   Tr 8 Tìm Hiểu Âm Lịch Nước Ta

(3)   Tr 9 Tìm Hiểu Âm Lịch Nước Ta

(4)   Tr 236 Đại Nam nhất thống chí tập IV


Tham Khảo:

+   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, Nxb Thuận Hóa 2006

+   Nguyễn Xiển, Nguyễn Mậu Tùng… Tìm Hiểu Âm Lịch Nước Ta, Nxb Khoa Học Kỹ Thuật 1985

+   Nguyễn Mạnh Linh, Nghiên Cứu Lịch Vạn Niên, Nxb Tự Điển Bách Khoa 2006

 

 

v