Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

SÔNG VÂN SƠN Ở PHÍA NAM BÌNH ĐỊNH

Sông Vân Sơn
trong Đồng Khánh bản đồ
 

            Sông Vân Sơn còn gọi là sông Hà Thanh, Đại Nam nhất thống chí bản Tự Đức 1882, Nxb Thuận Hóa 2006, Tập III, tr 39 chép:

Sông Vân Sơn ở phía Đông Nam huyện Tuy Phước, phát nguyên từ phía Tây núi Lão Hương, chảy sang phía Đông Nam, qua vực Thạch Trúc, suối Phèn, suối Khúc, và khe Bùn, đến thôn Quang Hiển (光顯村), gọi là sông Quang Hiển (光顯).

     Lại chảy quanh co sang phía Đông qua khe Vọt, khe Đá, khe Xoài và thủ sở Hà Thanh (河清守所), đến thôn Vân Hội (雲會村) trước là thôn Vân Sơn (雲山), gọi là sông Vân Sơn (雲山江).

- thủ sở nguồn Hà Thanh : nay thuộc xã Canh Vinh

- thôn Quang Hiển : nay là thôn Hiển Đông, Chánh Hiển, Tân Quang, Thanh Minh xã Canh Vinh

- thôn Vân Hội : nay là Kp Vân Hội ở Diêu Trì xã Tuy Phước

     Lại chảy về phía Đông 2 dặm thì chia làm 2 nhánh.

     Một nhánh chảy về phía Đông Bắc qua núi Càn Úc (郁山) ở cửa sông Đục, đến thôn thôn Phổ Trạch (普澤村), rồi đổ xuống đầm Biển Cạn (海鶴潭), đấy là chi lưu của sông Vân Sơn.

- núi Càn Úc : nay là núi Trường Úc, gọi tắt là núi Úc

- thôn Phổ Trạch : nay thuộc xã Tuy Phước

- đầm Biển Cạn : nay là đầm Thị Nại

- chi lưu sông Vân Sơn nầy, nay gọi là sông Tọc. Sông từ Vân Hội chảy vòng qua núi Úc, hợp với một nhánh của sông Tân An (sông Côn) chảy xuống Thuận Nghi, Phổ Trạch, qua cầu Hà Thanh 7, chảy qua Quảng Vân, Diêm Vân đổ ra đầm Thị Nại.


Sông Hà Thanh ở Vân Canh chảy ra Quy Nhơn



     Một nhánh chảy về phía Đông Nam qua núi Cấm Phú Xuân, có nước ao Bồ chảy vào, lại chảy về phía Đông đến thôn Phú Hòa Đông (富和東村), gọi là sông Phú Hòa Đông (富和東), cũng đổ xuống đầm Biển Cạn (海鶴潭).

- núi Cấm Phú Xuân : là hòn Chà Rang/Sơn Chà phường Quy Nhơn Bắc

- ao Bồ : giữa Long Vân và Phú Tài, nay gọi là Bàu Cả.

- thôn Phú Hòa Đông : nay là Phú Hòa phường Quy Nhơn Bắc

- sông Phú hòa Đông : nay gọi là sông Ngang. Sông từ Vân Hội chảy qua Long Vân, An Thạnh, chia làm 2 nhánh. Nhánh Nam qua Phú Vinh, Phú Hòa, có hồ Phú Hòa điều tiết nước cùng đổ ra đầm Thị Nại ngả cầu Hà Thanh 1. Nhánh Bắc qua chợ Dinh, Bình Thạnh, Lương Nông đổ ra đầm ngả cầu Hà Thanh 2.

             Sông Hà Thanh là sông nhỏ, ngắn, nhưng lưu vực bốn bề là núi độ dốc cao, nên dễ gây ra lũ. Ngày xưa là vùng chiến trận, khi quân Gia Định theo gió mùa tiến ra đánh Quy Nhơn của nhà Tây Sơn

 

Phan Trường Nghị

 

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

SÔNG CÔN Ở BÌNH ĐỊNH QUA ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ

 

Sông Tam huyện trong Đại Nam nhất thống chí 1910

            Sông Côn ở tỉnh Gia Lai ngày nay, Đại Nam nhất thống chí bản Duy Tân năm 1910 chép tên là sông Tam Huyện, vì nó thuộc địa phận 3 huyện Tuy Viễn, Tuy Phước và Phù Cát:

     三縣江在綏遠,綏福,符吉,三縣地

   Tam huyện giang tại Tuy Viễn, Tuy Phước, Phù Cát tam địa phận

            Sông phát nguyên có 2 nguồn, một từ núi Phong sơn (封山), hai từ nguồn Lộc Đỗng núi Kiền Kiền (鹿洞源乾乾山). Chưa xác định được núi Phong Sơn giờ là núi nào, nhưng ngoài thực địa, e rằng sông xuất phát tận ranh giới Kon Tum – Quảng Ngãi. Còn nguồn Lộc Đỗng là từ Đồng Le chảy ra Hầm Hô. Hai nguồn hợp nhau tại thôn Trinh Tường (貞祥村), tức ngoài cầu Phú Phong hiện nay, trên QL19 có lý trình 42km+487.

            Từ hợp lưu, theo hướng Đông sông chảy 25 dặm đến An Thái thuộc thôn Nhơn Ngãi (仁義村), xuống tới Đại Bình xã Nhơn Mỹ (nay thuộc phường An Nhơn) thì chia làm phái Bắc và phái Nam.

1)     Nam phái theo hướng Đông Nam chảy 2 dặm qua thôn Phụ Ngọc (輔玉村) huyện Tuy Viễn () thì chia làm 2 nhánh.

+  Một nhánh theo hướng Tây Nam chảy 20 dặm đến thôn Kim Châu (金珠村), có dòng từ nguồn An Tượng (安象源) nhập vào, men theo hướng Đông 3 dặm xuống đến thôn Liêm Trực (廉直村) huyện Tuy Phước (綏福縣), làm sông Tân An (安江).

+  Một nhánh chảy ra Bắc 17 dặm qua thôn An Ngãi (安義村), rồi lại theo hướng Đông đến thôn Biểu Chánh (表政村) huyện Tuy Phước làm sông Lam Kiều (藍橋江).

2)     Bắc phái từ thôn Nhơn Ngãi chảy theo Đông Bắc 5 dặm đến thôn Tân Kiều (新橋村), lại phân làm 2 nhánh.

+  Một nhánh chảy vào Nam 12 dặm đến thôn Phương Mính (芳銘村) làm sông Thạch Yển (石堰江), rồi thuận dòng hơn 30 dặm đến thôn Đa Tài (多財村) huyện Tuy Phước.

+  Một nhánh chảy ra Bắc 8 dặm qua thôn Thuận Chánh (順政村) làm sông Gò Găng (塸崗江), lại chảy 2 dặm qua thôn Phú Thành (富成村) huyện Phù Cát (符吉縣), có dòng phát nguyên ở núi Tham Vinh (參榮山) nhập vào, theo hướng Đông chảy qua thôn Lý Nhơn (理仁村)

     Cả 4 nhánh cùng chảy vào đầm Hải Hạc (海涸潭) đổ ra cửa biển Thi Nại (施耐海口). Phía Bắc sông Gò Găng có một dòng nước đục (濁水) chảy xuống Đông Nam bảy, tám dặm đến thôn Phú Thành hợp với sông Gò Găng. Phía Nam sông Tân An có một dòng chảy phía Đông Bắc ấp Kiên Uy (堅威邑) hơn 10 dặm qua ấp Quang Châu (光珠邑) nhập vào sông Tân An.

 

Sông Côn ngày nay

           Nam phái của sông Tam Huyện phân làm 2 nhánh:

+  Nhánh Nam là sông Tân An chảy qua Kim Châu của Tuy Viễn (nay là Kp Kim Châu phường Bình Định) xuống Liêm Trực của huyện Tuy Phước (nay là Kp Liêm Trực phường Bình Định). Phía Nam sông Tân An có dòng phía Đông Bắc ấp Kiên Uy chảy xuống Quang Châu. Thời Minh Mạng đã nâng ấp lên làm thôn, chưa rõ sao Quốc sử quán năm 1910 vẫn đưa đơn vị ấp vào Đại Nam nhất thống chí! Thời Gia Long, Kiên Uy có 4 ấp: Kiên Uy Nhứt nay là thôn Cù Lâm, Kiên Uy Nhị là thôn An Thành, Kiên Uy Tam nay là thôn Đông Lâm, thôn Tân Lập, Kiên Uy Tứ là thôn Nam Tượng, thôn Thọ Tân, tất cả đều thộc xã An Nhơn Tây tỉnh Gia Lai ngày nay. Nhất thống chí nói dòng phía Đông Bắc ấp Kiên Uy chảy xuống Quang Châu thì Kiên Uy đó là Cù Lâm ngày nay. Còn Quang Châu nay là Long Quang phường An Nhơn Nam.

+  Nhánh Bắc là sông Lam Kiều tục gọi sông Gò Chàm chảy qua An Ngãi của huyện Tuy Viễn (nay là Kp An Ngãi phường An Nhơn Đông), rồi xuống Biểu Chánh của huyện Tuy Phước (nay là thôn Biểu Chánh xã Tuy Phước Bắc).

            Bắc phái của sông Tam Huyện cũng phân làm 2 nhánh:

+  Nhánh Nam là sông Thạch Yển tục gọi là sông Đập Đá, chảy qua Phương Mính nay là Phương Danh phường Đập Đá, xuống Đa Tài nay là Kim Tài phường An Nhơn Bắc.

+  Nhánh Bắc là sông Gò Găng chảy qua Thuận Chánh, qua Phú Thành, nay là Vạn Thuận và Phú Thành thuộc phường An Nhơn Bắc. Sông có dòng từ núi Tham Vinh nhập vào, chảy qua Lý Nhơn nay là Lý Tây, Tây Thuận phường An Nhơn Bắc. Phía Bắc sông Gò Găng có dòng nước đục xuống tới Phú Thành rồi hợp với sông Gò Găng chảy ra Đại Hữu, Đại Hào của Phù Cát.

            Cả 4 chi lưu của sông Tam Huyện đều đổ vô đầm Thị Nại ngày nay.

 

Phan Trường Nghị



Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026

TÊN NÚI LỖ TÂY TRONG ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ

Quốc sử quán triều Nguyễn có miệt thị nhà Tây Sơn hay không!

núi Danh Bình và núi Lỗ Tây trong bản Duy Tân

            Đại Nam nhất thống chí bản Tự Đức năm 1882 chép về núi Lỗ Tây:

+ “Ở thôn Thượng Giang về phía Tây Bắc huyện. Gần về phía Nam có núi Miệt sơn, phía Tây Bắc có núi Lỗ Dương, núi Thạch sơn, núi Lý Văn. Lưng núi có đường đi đến đường An Khê, phía Bắc đường có núi Bà, núi Dừa, núi Độc, núi Cái Đính. Lại ở thôn Định Chiêu về phía Tây Bắc huyện, có núi Bình sơn, có núi Nhạc sơn, lưng núi đều có đường đến An Khê”. (1)

            Thôn Thượng Giang nay thuộc xã Bình Khê. Còn thôn Định Chiêu nay là thôn Định Quang xã Vĩnh Quang tỉnh Gia Lai. Đầu thế kỷ trước, Định Chiêu phạm húy tên vua Thành Thái nên cải làm Định Quang. Núi Lỗ Tây thuộc xóm Đồng Vắt của Thượng Giang, giờ là thôn Trung Sơn xã Bình Khê. Trước 1963 Thượng Sơn cũng thuộc Thượng Giang, giờ là thôn Thượng Sơn xã Bình Khê.

            Từ Lỗ Tây đến Thượng Sơn có đường vượt đèo Vạn Tuế phía hòn Ông Bình lên An Khê. Ngả đèo Mang tức đèo An Khê, cuối thế kỷ 19 đi lại mới thuận tiện, ngả nầy có hòn Ông Nhạc, cư dân đọc trại là Ông Nhược. Nhạc và Bình là tên 2 thủ lĩnh Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ của nhà Tây Sơn.

            Đại Nam nhất thống chí bản Duy Tân có nguyên ngữ nên đọc được mặt chữ núi Lỗ Tây là (魯西山). Mục núi Lỗ Tây bản Tự Đức có tiểu dẫn, đưa Bình sơnNhạc sơn vào, chẳng khác nào miệt thị nhà Tây Sơn. Vì ngữ nghĩa của Lỗ () chẳng tốt đẹp gì! Trong khi đó núi Lỗ Tây không phải là danh sơn, không hùng vĩ, nó không lớn so với chung quanh. Nó cũng không có vị trí chiến lược cả về mặt quân sự lẫn kinh tế! Tại sao Quốc sử quán đưa vào sách! Lại đặt tên núi là Lỗ Tây sơn! Tên núi, tên sông, khi dân gian đặt, sách thường có chép “tục danh” kia mà.

Vị trí núi Lỗ Tây trên bản đồ

            Thấy được một điều, Quốc sử quán đưa tên núi Lỗ Tây vào sách, chỉ vì nó nằm gần núi Thuận Ninh, là núi thời Gia Long tên gọi là Tây Sơn lãnh (西山嶺), gần hòn Ông Bình mà sách chép là Danh Bình sơn (名平), tức là những địa danh liên quan triều đại cũ: nhà Tây Sơn.

            Bản thảo Đại Nam nhất thống chí năm Tự Đức thứ 35, vua chưa cho chép khắc in dù khởi soạn từ năm Tự Đức thứ 18. Đại Nam thực lục chép năm Nhâm Ngọ 1882 Tự Đức thứ 35:

Bản thảo sách Đại Nam nht thng chí đã xong. Quan Quốc sử quán tâu xin cho thợ khắc bản in.

Vua bảo rằng : Cần phải tinh tường mới khắc, để khỏi bị chê về sau như sách Việt sử cũ. Lại cho bản thảo là cứ theo từ năm Tự Đức thứ 18 (1865) trở về trước mà làm, sau này thay đổi tỉnh, đạo (như Quảng Trị, Phú Yên, Hà Tĩnh năm Tự Đức thứ 18 trở về trước là đạo, sau đổi đặt là tỉnh và các phủ, huyện thuộc các tỉnh Hà Nội, Ninh Bình, Sơn Tây, Bắc Ninh gián hoặc có chia ra hợp lúc) và những trung thần, nghĩa sĩ còn nhiều người chưa kịp biên tiếp lại sai biên thêm từ năm Tự Đức thứ 34 (1881) trở về trước làm hạn(Sau biên thêm chưa kịp tiến trình, đến năm Hàm Nghi thứ nhất (1884), bản thảo ấy vì có việc bị thất lạc). (2)

            Tự Đức đã sai Quốc sử quán: phải chỉnh sửa lại bản thảo Đại Nam nhất thống chí năm 1882 cho tinh tường, phù hợp với thời thế mới được khắc in. Có phải chăng sự tinh tường mà vua lưu ý, là liên quan cách ghi chép bản thảo đối với triều đại cũ, phải chọn lọc, phải cân nhắc. Vì vậy mà Quốc sử quán đã phải chỉnh sửa, năm 1910 Duy Tân cho khắc in. Dấu vết có sự chỉnh sửa là núi Thuận Ninh cải làm Đa Đa lãnh (多多), tên đã có từ thời Gia Long là Tây Sơn lãnh (西山嶺) có đèo Đa Đa (岧多多), tách Danh Bình Sơn thành một đề mục riêng, không nằm chung với Lỗ Tây sơn. Nhạc sơn () được chép theo dân gian gọi là hòn Ông Nhược (若山), tránh gọi thẳng tên anh lớn của nhà Tây Sơn. Núi Lỗ Tây trong bản Duy Tân viết đơn giản hơn:

魯西山 在縣西北,有蔑山,西北有魯陽山,石山,里文山.山腰有路達于安山溪

Lỗ Tây sơn tại huyện Tây Bắc, Nam hữu Miệt sơn, Tây Bắc hữu Lỗ Dương sơn, Thạch sơn, Lý Văn sơn. Sơn yêu hữu lộ đạt vu An Sơn khê. (Núi Lỗ Tây ở Tây Bắc huyện, phía Nam có Miệt sơn, Tây Bắc có Lỗ Dương sơn, Thạch sơn, Lý Văn sơn. Lưng núi có đường thông đến khe An Sơn)

            Hòn Ông Bình chép theo đề mục riêng:

名平 在縣西北,山北半嶺有路達乆安村三岐 路,近山之南曰名若山亦有路通安溪村

Danh Bình sơn tại huyện Tây Bắc, sơn Bắc bán lĩnh hữu lộ đạt Cửu An thôn tam kỳ lộ, cận sơn chi Nam viết danh Nhược sơn, diệc hữu lộ thông An Khê thôn. (Núi Ông Bình ở Tây Bắc huyện, nửa núi phía Bắc có đường thông đến ngã ba thôn Cửu An, phía Nam  có núi Ông Nhược cũng có đường thông đến thôn An Khê)

núi Thuận Ninh và núi Lỗ Tây trong Đồng Khánh bản đồ

            Năm 1883 Tự Đức băng hà, lại xảy ra biến loạn kinh thành Huế. Hàm Nghi phải xuất bôn, triều thần chia làm 2 phe chủ chiến và chủ hòa. Sự chỉnh sửa của Quốc sử quán không rốt ráo, vô tình Đại Nam nhất thống chí thể hiện sự xiên xẹo, không ngay thẳng của những cây bút chép sử!

 

Phan Trường Nghị


(1) Đại Nam nhất thống chí, tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 20

(2) Đại Nam thực lục, tập VIII, Nxb Giáo Dục 2001 bản pdf, tr 374



Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

TÂY SƠN LÃNH VÀ THUẬN NINH SƠN TRONG THƯ TỊCH CỔ

Núi Non phía Nam Bình Định trong Đồng Khánh bản đồ

 1) Tây Sơn lãnh (西山嶺)

            Tây Sơn lãnh xuất hiện trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí năm 1806 của Thượng thư Lê Quang Định. Đây được xem là bộ địa chí đầu tiên của triều Nguyễn, sách mô tả dịch lộ, kỳ lộ lẫn thủy lộ từ Bắc Thành cho đến Gia Định thành. Tại trấn Bình Định, sách có chép đường đi từ Trấn thành Bình Định đến thôn Kiên Mỹ có qua các địa danh: (1)

+  sông Thiết Trường (鉄場江) : Đây là nhánh chi lưu của sông Côn chảy qua Thiết Trường, còn gọi là sông Quai Vạc, làm ranh giới cho 2 ấp ngày xưa là ấp Thiết Trụ Nhì (là Thiết Trường của Nhơn Mỹ) và ấp Thiết Trụ Nhứt (là Thiết Trụ của Nhơn Hậu). Nhơn Hậu và Nhơn Mỹ trước đây thuộc Thị xã An Nhơn tỉnh Bình Định, nay thuộc phường An Nhơn tỉnh Gia Lai.

+  chợ Nho Lâm (儒林巿) : thôn Nho Lâm thời Gia Long có chánh hộ ấp Thời Hòa (gần đây nó là thôn Háo Ngãi xã Tây An huyện Tây Sơn),và khách hộ ấp Thời Hòa (gần đây là thôn Ngãi Hòa xã Nhơn Mỹ thị xã An Nhơn).

+  cầu Tân Duệ () : Tân Duệ còn đọc là Tân Nhuệ, đây là địa phận ấp Tân Nhuệ Nhì của thuộc Thời Hòa theo địa bạ năm 1815, gần đây nó là thôn Tân Đức xã Nhơn Mỹ thị xã An Nhơn.

+  chợ Vân Tường (雲祥巿) : Vân Tường là ấp của thuộc Thời Hòa huyện Tuy Viễn, gần đây nó là thôn Vân Tường của xã Bình Hòa huyện Tây Sơn

+  khe Trường Định (長定) : đây là Suối Bèo, thuộc địa phận thôn Trường Định của thuộc Thời Hòa trong địa bạ năm 1815, gần đây là thôn Trường Định của xã Bình Hòa huyện Tây Sơn, nay thuộc xã Bình An, Gia Lai.

+  điếm Lò Giấy (爐紙) : đây đã thuộc địa phận ấp Kiên Mỹ của thuộc Thời Hòa, điếm Lò Giấy là ranh giới của Kiên Mỹ và Kiên Long. Sau năm 1975 thuộc xã Bình Thành huyện Tây Sơn, nơi có Bảo tàng Quang Trung và điện thờ Tây Sơn tam kiệt.

            Tại ấp Kiên Mỹ theo tiểu lộ đi về hướng Tây là đến thủ sở nguồn Đồng Hươu (仝貅源守所), là đường vào khu du lịch Hầm Hô hiện nay. Còn theo đường lớn đi tiếp hướng Tây để lên nguồn Cầu Bông (橋芃源), sách chép tiếp theo bản dịch Phan Đăng, Nxb Thuận Hóa năm 2005:

1537 tầm (hơn 3km), bắt đầu từ ấp Kiên Mỹ dọc đường là ruộng lúa và gò đồi xen nhau, dân cư thưa thớt, đến khe Kiên Thành (堅城)

            Khe Kiên Thành nay người địa phương gọi là Suối Nhiên. Thời Gia Long, ấp Kiên Thành là của thuộc Thời Hòa, sang triều Minh Mạng cải làm thôn Phú Lạc của tổng Thời Hòa, gần đây thuộc xã Bình Thành huyện Tây Sơn. là thôn có di tích Gò Lăng, nơi có mộ của Nội tổ ba anh em Nhạc Huệ Lữ của nhà Tây Sơn.

2237 tầm (gần 5 km), đường rộng 3 thước (khoảng 1,2m), bên Nam chạy dọc theo sông, bên Bắc gần núi rừng, đoạn đường từ đây đi lên thượng nguồn rất sợ nạn cọp beo, khách đi đường phải lưu ý. Đến điếm Trường An (坫長安) tục gọi là Quán Mông (舘檬)

            Đến điếm Trường An là bắt đầu vào địa phận thôn Trường An. Quán Mông nay người địa phương gọi là Quán Nổng. Quán Nổng của Phú Lạc gọi là xóm Bình Đồn, trước năm 1947 thuộc thôn Tả Giang. Thời Gia Long, Tả Giang là ấp Tả Chi Nhứt của thôn Trường An thuộc Thời Hòa. Thôn Trường An gần đây là xã Tây Giang của huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, nay là xã Bình Khê, Gia Lai.

Quán Nổng có công trình đập dâng Văn Phong phía dưới bến Cây Muồng chặn ngang sông Côn, hoàn thành năm 2015. Tại đây phía bờ Nam sông Côn là núi Ngang (Hoành sơn) có di tích Lăng mộ chí sĩ Cần vương Mai Xuân Thưởng. Phía bờ Bắc là Độc Nhũ sơn (犢乳) hay Trưng sơn, dân địa phương gọi là hòn Sưng hoặc hòn Mả mẹ chú Lía. Truyền thuyết kể lại là chàng Lía từ Chóp Vàng (núi Bá Bích thuộc xã Bình Phú) đội áo quan Mẹ về chôn trên đỉnh Trưng sơn.

1172 tầm (gần 3 km), phía Nam chạy dọc theo sông, phía Bắc là ruộng cao trồng dâu, đến sông Đồng Phú (仝富), sông rộng 60 tầm, mùa Xuân Hè thì nước sông trong và cạn, khách đi đường có thể xắn quần lội qua, Thu Đông mưa lụt nước đầy phải có thuyền mới qua được. Đi lên thì đến nguồn Cầu Bông (橋芃源) chỉ đi bằng đường sông, đi xuống thì chảy vào sông Sung Bông (𣑁𥟌)

            Đồng Phú là Đồng Phó của thôn Thượng Giang xã Bình Khê. Gần đây nó là xã Tây Giang huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, nơi đây hiện vẫn còn các xóm mang tên Đồng Phú Bắc, Đồng Phú Trung, Đồng Phú Nam.

Thượng Giang ở bờ Nam sông Côn, nó có tên vào thời Minh Mạng, trước đó là ấp Tả Chi Tam của thôn Trường An thuộc Thời Hòa theo địa bạ năm 1815. Ở bờ Bắc sông Côn là Hữu Giang, xưa là ấp Tả Chi Nhị. Thôn Trường An thời Gia Long có 3 ấp là Tả Chi Nhứt, Tả Chi Nhị và Tả Chi Tam. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí đến đây chép rõ khi từ Đồng Phó đi tiếp lên thượng nguồn là phải đi bằng đường sông, không dùng đường bộ được.

550 tầm (hơn 1km), dọc đường đều là đồi cát, đến khe Đồng Phú (仝富溪)], khe rộng 7 tầm, nước khe trong và cạn, mùa hè thì cạn khô

            Người địa phương nay gọi khe Đồng Phú là suối Cát hay suối Cả. Là suối phát nguyên trên hòn Bình, núi đặt theo một tên khác của Quang Trung Nguyễn Huệ được Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận. Suối hợp với suối từ hang Dơi đèo An Khê xuống cùng chảy ra Đồng Phó.

3170 tầm (hơn 6,5 km), dọc đường là ruộng hoang và gò rừng xen nhau, đến Tây Sơn lĩnh (西山嶺) núi dài 2250 tầm (hơn 4,5 km), tục gọi là đèo Đa Đa (岧多多), đường núi lồi lõm gập ghềnh

            Theo ghi chép của Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, đến đây là gặp Tây Sơn lĩnh: Ngoài thực địa, từ cửa khẩu suối Cát đi bằng thuyền đến Tân Thuộc, là thôn Hữu Thuận xã Bình Khê ngày nay. Bên kia sông Côn có núi, người địa phương gọi là hòn Dồ (Vồ). Núi trải dài lên tới Tiên An hơn 4km, tại đây đây có đèo Bồ Bồ đi qua bên Thuận Ninh của xã Bình Tân huyện Tây Sơn, nay là xã Bình Hiệp tỉnh Gia Lai.

Tây Sơn lĩnh (núi Thuận Ninh)

2) Thuận Ninh sơn (順寕)

            Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí chép Tây Sơn lãnh tục danh đèo Đa Đa (西山嶺俗名岧多多), rõ ràng Tây Sơn lãnh chính là núi Thuận Ninh ngày nay. Nhưng khảo lại Đại Nam nhất thống chí đã chép về núi Thuận Ninh như thế nào!

            Bản dịch Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức của viện Sử học:

+  Núi Thuận Ninh ở thôn Thuận Ninh (順寕村), phía Tây Bắc huyện (Tuy Viễn), tục gọi đèo Tây Vong (岧西亡), chân núi có khe (tục gọi là sông Cá?), nước khe chảy về phía Nam đến núi Phan Lê, đổ vào khe của sông Tam Huyện (三縣江). Đầu đời Minh Mạng đặt xe giã thuốc nổ ở đây.  Có đường đi về phía Bắc đến nguồn Thạch Bàn (石磐源) huyện Phù Cát, phía Nam đến thôn Tiên Thuận (先順村), về phía Đông núi có núi Kỳ Tán, phía Tây Nam có núi Ô Mộc (tục gọi là núi Cây Mun).(3)

           Ngày nay, thôn Thuận Ninh thuộc xã Bình Hiệp tỉnh Gia Lai, người địa phương gọi đèo Tây Vong là đèo Bồ Bồ, gọi sông Cá? là sông Quéo, Sông Quéo nay là suối Bèo. Đến núi Thơm, suối chảy ra sông Côn làm ranh giới 2 thôn Kiên Thạnh và Vĩnh Lộc thuộc xã Bình An. Đèo Bồ Bồ là đường từ xóm Tiên An (thuộc thôn Tiên Thuận) qua Thuận Ninh để đến nguồn Thạch Bàn, là con đường mà thời 9 năm dân công Phù Cát tải vật dụng lên Tây Nguyên phục vụ chiến trường.

            Không có gì phải nghi ngờ, Tây Sơn lĩnh chính là Thuận Ninh sơn, đèo Đa Đa chính là đèo Tây Vong trong Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn. Ý đồ chính trị của Quốc sử quán khi biên soạn Đại Nam nhất thống chí là định hình lại địa lý, nói theo ngôn ngữ thời nay là chuẩn hóa dữ liệu, ngôn ngữ mô tả không sai với thực địa, nhưng từ ngữ được đưa vào làm phai mờ dấu vết của nhà Tây Sơn. Như Tây Sơn lĩnh có đèo Đa Đa từ thôn Tây Sơn đi qua huyện Phù Cát, được chép là đèo Tây Vong, hàm nghĩa là nhà Tây Sơn đã mất!

            Có phải chăng Tự Đức chưa hài lòng cách ghi chép của Quốc sử quán, nên chỉ dụ phải làm lại mới được phép khắc in (!?). Để rồi đến đời Duy Tân bản khắc quyển 9 chỉ nhắc đến Đa Đa lãnh (多多嶺) chớ không nói gì về núi Thuận Ninh!

 

Phan Trường Nghị


(1) Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Nxb Thuận Hóa 2005, tr 247

(2) Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Nxb Thuận Hóa 2005, tr 248

(3) Đại Nam nhất thống chí Tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 22

 

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

NÚI KỲ SƠN QUA QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN

Chiến trận năm 1793 ở Quy Nhơn

            Núi Kỳ sơn hiện thuộc xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai. Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức chép:

Núi Kỳ sơn ở phía Đông huyện; chỗ lõm ở lưng núi có đèo, phía Tây đèo có hồ Quang nên tục gọi là đèo Hồ Quang. Sang phía Bắc đến đèo Cao, có khối đá như hình chim Phượng, tục gọi núi Phượng sơn, rừng cũng gọi là rừng Phượng sơn. Cách chân núi ba mươi bước có một cái hố, hình thế bằng phẳng, rộng ước vài ba mẫu, bên hố mọc ra một khối đá lớn giống hình con Rùa, tục gọi là hố Rùa. Từ đó đi xuống có hang đá, bên cạnh hang có hai khối đá, trẻ chăn trâu thường đến nện vào đá chơi đùa, tiếng vang ra, một bên như tiếng chuông, một ben như tiếng trống. Về phía Bắc Phượng sơn, lại nổi lên một ngọn núi, vòng quanh như hình bán nguyệt, tục gọi gò Nguyệt, phía Đông là thôn Lộc Hạ, có núi Ngư Cốt (núi Xương Cá), tương truyền vị cao tăng đời Lý là Không Lộ ăn cá, xương cá tụ lại thành núi, nên gọi thế.(1)

            Qua ghi nhận của Quôc sử quán triều Nguyễn, núi Kỳ sơn () còn có Phụng, Quy, Ngư, Nguyệt xoay quanh. Đại Nam nhất thống chí chỉ nhắc đến địa danh thôn Lộc Hạ, nhưng bốn mặt của Kỳ sơn còn có các địa danh Phụng Sơn, Nhơn Ân, Huỳnh Mai, Tình Giang, Xuân Mỹ, Mỹ Cang, Mỹ Trung, mà cư dân nơi đây đã góp phần hun đúc khí thiêng cho Kỳ sơn.

            Như phía làng Tình giang (giờ là Giang Bắc, Giang Nam) nơi có mộ phần Thượng thư Lê Công Miễn, tác giả của bộ luật Hình thư triều Tây Sơn. Phía làng Phụng Sơn, nơi cư dân góp công góp của lập ra Nghĩa thương thời Tự Đức chăm lo “tối lửa tắt đèn”, xóm làng quanh vùng cùng có nhau. Phía làng Kỳ Sơn là nơi dạy học, làng Nhơn Ân là quê của Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu Ông đồ nghệ sĩ. Phía núi Huỳnh Mai là nơi gởi thân của Hậu tổ tuồng Đào Tấn, học trò của Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu.

            Kỳ sơn cũng từng là chỗ gươm đao máu đổ. Năm Quý Sửu 1793, quân Gia Định ra đánh Quy Nhơn, Võ Tánh đổ bộ lên được chợ Thị Nại, quân của Tôn Thất Hội cũng vượt được Cù Mông, Hà Nha (nay thuộc Vân Canh). Quân Nam phá vỡ phòng tuyến cầu Tân Hội (là cầu Đôi) tiến tới làng Bình Thạnh (nay thuộc phường Quy Nhơn Đông), nhưng con của Thái Đức Nguyễn Nhạc là Nguyễn Bảo lập phòng tuyến từ Thổ sơn (núi Thị Thiện) đến Úc sơn (núi Úc) ngăn chặn được. Đại Nam thực lục chép:

Vua (Nguyễn vương Phúc Ánh) mật bảo Tôn Thất Hội ở gò Phú Quý (nay vùng đèo Phú Quý xã Tuy Phước Tây), dùng dân phụ cận gỡ gai chặt cây giả cách làm đường sạn đạo, rồi đến đêm cùng Nguyễn Văn Thành dẫn quân ngậm tăm ngầm vượt Kỳ Sơn, họp với đạo quân Võ Tánh để đánh úp sau lưng giặc. Giặc đương lúc chẳng ngờ, quân và voi tán loạn, giày xéo lẫn nhau, chết không xiết kể.(2)

            Đánh nhau thì cả hai bên, bên nầy sưng đầu thì bên kia cũng phải mẻ trán như nhau. Đến chiến trận Kỳ sơn năm Nhâm Tuất 1802, lúc nầy quân Gia Định đã chiếm được Phú Xuân, vua Nguyễn Quang Toản phải chạy ra Bắc, nhưng Quy Nhơn vẫn còn trong tay Thiếu phó Trần Quang Diệu của nhà Tây Sơn. Đại Nam nhất thống chí bản đời Duy Tân chép:

Nhất Thống chí đời Duy Tân viết về núi Kỳ Sơn

     Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên tấn công quân Tây Sơn ở Kỳ sơn, binh của Đức Xuyên giết được nhiều quân giặc. Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu suất binh sau núi tiến ra vây hãm, khiến phó tướng Tiền quân Nguyễn Huệ tử trận. Đức Xuyên đóng binh cố thủ. Rồi Nguyễn Văn Thành đem binh đánh, đuổi giặc đến vườn Dừa (椰園) phá tan. Lệnh đắp đồn bảo cố thủ để chặn đường rút lui của giặc, giặc phải trốn chạy (ý nói Trần Quang Diệu phải bỏ Quy Nhơn theo đường thượng đạo ra Nghệ An), tức là núi nầy.

            Giang sơn hun đúc khí thiêng làm nên cái đẹp cho con người, nhưng ham muốn của con người lại làm cho núi sông phải khóc cảnh máu chảy đầu rơi

 

Phan Trường Nghị

 

(1) Đại Nam nhất thống chí, Tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 24

(2) Đại Nam thực lục, Tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 317

 


 

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

ĐÈO PHỦ CŨ CỦA BÌNH ĐỊNH

đèo Phủ Cũ trong Đồng Khánh bản đồ

            Đèo Phủ cũ tại Phù Mỹ, Đồng Khánh dư địa chí năm 1887 chép ở phủ Hoài Nhơn:

Một đường quan báo từ lỵ sở (Hoài Nhơn) đi về phía Nam đến đèo Cựu phủ giáp huyện Phù Mỹ hơn 16 dặm. (1)

            Trong Đồng Khánh bản đồ ghi là Cựu Phủ lãnh (舊府嶺). Lãnh/Lĩnh là núi có đường đèo.

            Còn Đại Nam nhất thống chí bản Duy Tân thì chép:

+  Cựu Phủ lãnh (舊府嶺) ở phía Nam huyện (Bồng Sơn), giáp giới huyện Phù Mỹ là chỗ đường trạm đi ngang qua. Núi sản nhiều chè.

舊府嶺在縣,符美縣界, 驛路所經之處.山多産茶

            Vậy đèo Cựu phủ hay nôm na đọc là đèo Phủ cũ. Dân gian có người gọi là đèo Phú cũ chỉ vì lâu ngày trại âm ra mà thôi.

            Vì sao gọi là là Phủ cũ!

            Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu cho biết trong Địa bạ năm 1815, xã Lại Dương của tổng Hạ huyện Bồng Sơn có phường Phủ cũ (舊府坊), phường có 1 ấp là Phủ Khánh khách hộ ấp (府慶客戶邑).(2)

            Với địa danh hành chánh phường Phủ cũ thời Gia Long, cho thấy địa danh này trước đó liên quan đến phủ đường, lỵ sở của một phủ. Xét Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ của Đốc suất Đoan quận công Bùi Thế Đạt dâng lên chúa Trịnh năm Giáp Ngọ 1774, phủ đường phủ Quy Nhơn bấy giờ là địa danh Nghị Trung phủ (誼中府). Nghị Trung phủ là phủ quan, hàm nghĩa là chỗ các quan, các bạn cùng triều làm việc.

Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ năm 1774

            Theo bản đồ, Nghị Trung phủ năm 1774 nằm trên đường Thiên lý thuộc huyện Bồng Sơn, chưa đến ranh giới huyện Phù Ly. Như vậy Nghị Trung phủ thuộc địa phận phường Phủ cũ của huyện Bồng Sơn năm 1815.

            Đèo Phủ cũ hiện thuộc xã Phù Mỹ Bắc, nhưng nguồn gốc địa danh của nó gắn liền với phường Bồng Sơn tỉnh Gia Lai ngày nay

 

Phan Trường Nghị

 

Chú thích:

(1) Đồng Khánh dư địa chí bản pdf, nhóm Ngô Đức Thọ dịch, tr 1550

(2) Nghiên cứu Địa bạ tỉnh Bình Định Tập I, Nxb TpHCM 1996, tr 93

 

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2026

CÁC SẮC PHONG CỦA HỌ TRẦN Ở HOÀI NHƠN CÓ NGỤY TẠO KHÔNG !

            Đọc được status cho rằng các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn nằm trong dạng ngụy tạo, mình cũng phải lên tiếng. Vì mình tâm đắc với cách đặt câu hỏi, là cách giáo dục mà mình được học trước 1975, tâm đắc với chủ trương Khai Dân trí của các cụ ngày xưa, phải luôn luôn cầu học. Có đặt câu hỏi và trả lời mới sáng tỏ vấn đề, dù vấn đề đã trải qua mấy thế kỷ.

            Cho rằng các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn ngụy tạo, là hàng giả. Có thể tóm gọn theo mấy ý:

1. Sắc phong năm 1594, có đ cập Trấn Biên dinh Phó tướng Dương Đàm hầu . Nhưng theo Đại Nam thực lục, cơ quan hành chánh Trấn Biên dinh (鎮邉營) chỉ có mặt bắt đầu vào năm 1629. Vậy làm sao mà vào năm 1594 thời cha con Nguyễn Hoàng còn ở ngoài Bắc mà đã có dinh Trấn Biên xứ Quảng Nam được ?

2. Sắc phong năm 1564, Trần Ngọc Trách, cha của Phó tướng Dương Đàm hầu chỉ có tước là Huệ Trung Bá khi mất, nhưng lại được triều đình truy phong hàm Kim tử Vinh Lộc Đại phu. Làm sao mà lại được truy phong tới chánh nhất phẩm để mà được đặc thụ hàm Kim tử Vinh Lộc Đại phu?

3. Với sắc phong thần thời chúa Nguyễn Phước Trăn. Phong cho Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân là “thượng đẳng phúc thần”. Toàn bộ các chúa Nguyễn đều dùng niên hiệu nhà Lê, phong thần như thế thì dùng niên hiệu gì ? Và quan trọng hơn là dùng ấn gì ?

4. Với sắc phong cho Trần Đức Hòa tập ấm. Trần Ngọc Phân là một Võ quan, con của ông là Trần Đức Hòa được tập ấm chức Hoằng Tín đại phu lại thuộc Văn giai. Lẽ ra con của ông phải được tập ấm theo Võ giai chứ! Sau Trần Đức Hòa cũng là một Võ quan, nó không hợp lý, và cũng là ngụy tạo vậy!

            Mình cũng tạm tóm gọn giải thích những gì mình hiểu Chuyện xưa, vì sau 1975 mình có được học Lịch sử của trường lớp nào đâu!

1. Mình thấy Đại Nam thực lục Tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf trang 39, chép năm 1602 Nguyễn Hoàng vượt đèo Hải Vân vào Điện Bàn:

    + Bây giờ Khám lý phủ Hoài Nhơn (nay thuộc Bình Định) là Trần Đức Hòa (bấy giờ gọi là Cống quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, Phó tướng dinh Quảng Nam) đến yết kiến, chúa đãi rất hậu.

      Cũng vậy ở trang 49 xác định sự kiện vào năm 1629:

+ Văn Phong ở Phú Yên dùng quân Chiêm Thành để làm phản

Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh (con trưởng Mạc Cảnh Huống, lấy công chúa Ngọc Liên, cho theo quốc tính, sau đổi làm [hệ tính] Nguyễn Hữu) đi đánh dẹp yên và lập dinh Trấn Biên. (Khi mới mở mang, những nơi đầu địa giới đều gọi là Trấn Biên). Vì có công ấy, đặc biệt cho dùng ấn son.

            Nếu xét Đại Nam thực lục đã xác nhận: “Khi mới mở mang, những nơi đầu địa giới đều gọi là Trấn Biên”, mường tượng ra cách chép của Quốc sử quán triều Nguyền, không phải là bắt đầu từ năm 1629 mới có dinh Trấn biên. Xét năm 1594 dinh Quảng Nam là địa đầu cương vực phía Nam của Lê-Trịnh, Quảng Nam dinh đã có động thái mở về phía Nam, đến 1611 lập ra phủ Phú Yên. Năm 1593 Nguyễn Hoàng bị lưu lại ở đất Bắc, năm sau có sắc của vua Lê phong Phó tướng dinh Quảng Nam cho Dương Đàm hầu. Không thể không có sự vận động của Nguyễn Hoàng, để có người chấp chưởng công việc ở Quảng Nam thay ông, vì ông còn ở đất Bắc. Sắc phong năm Quang Hưng thứ 17 (tức năm 1594) của triều Lê không có gì trái ngược với sử liệu.

2. Xem trong Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú về Cấp bậc phong ấm cho Cha mẹ, Vợ con các công thần ở trang 634 sách đã dẫn, Tập I, Nxb Giáo dục 2005 bản pdf, thì với các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn, mình hiểu thế nầy:

Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y Trần Ngọc Phân được phong tước Dương Đàm hầu năm 1564, nên Cha mẹ, Vợ con của Dương Đàm hầu cũng được ban tước phẩm theo đúng điển lệ đời Hồng Đức, công thần thuộc Võ ban được tước Hầu thì Cha mẹ được phong kém con một bậc:

+ cha và ông : phong Bá

+ mẹ và bà : được Tự phu nhân

+ vợ : được Chánh phu nhân

+ trưởng nam : được Hoằng Tín đại phu

            Xét sắc truy tặng cha của Dương Đàm hầu là Trần Ngọc Trách tước Huệ Trung bá, hàm Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu là ban cho người được Ấm phong vừa mới mất. Hàm Đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu là hàm Tản quan Chánh nhất phẩm, có phẩm nhưng không có thực chức. Dù Trần Ngọc Trách mất hay còn tại thế thì tước phẩm cũng đều đúng với điển lệ đời Hồng Đức. Nếu sắc phong là hàng giả thì cũng khá khen kẻ ngụy tạo nắm vững Quan chế đời Lê.

3. Cũng vậy, với sắc phong trao chức Hoằng Tín đại phu cho Trưởng nam của Dương Đàm hầu là Trần Đức Hòa, thấy đúng với điển lệ Ấm phong đời Hồng Đức mà Phan Huy Chú đã khảo.

Còn vấn đề Hoằng Tín đại phu thuộc Văn giai! Mình không có điều kiện tham khảo hết các sắc phong thời Lê, công thần thuộc Võ giai, ấm phong cho con phải theo đúng Võ giai, chưa rõ có đạo sắc nào như vậy hay không. Nhưng mình nghĩ Hoằng Tín đại phu cũng là chức Tản quan thuộc Văn giai thì ở bước đầu tập ấm, Cha thuộc Văn giai hay Võ giai không có gì phải phân vân. Bước đầu tập ấm phải học, phải tập Lễ đã.

4. Khảo các sắc phong của họ Trần là để đối chiếu Tường thuật của Cristoforo Borri năm 1631, ông đã viết ở Bình Định ra sao, tâm thế của mình là vậy. Lại nữa về ấn triện mình không có chuyên môn, nên không được hiểu sâu vấn đề mà chủ nhân status đã đặt ra, việc nầy phải dành cho những nhà chuyên trách. Nhưng là câu hỏi hay, mình cũng lạm bàn:

+  Báo chí thường mang tính tô đậm sự việc thông tin. Sắc phong thần đời chúa Nguyễn Phúc Trăn, niên hiệu của vua Lê Hy Tông là năm Chánh Hòa thứ 10 (tức năm 1689) do Câu kê kiêm Tri bạ Trần Đình Ân “đối chiếu sổ bộ và soạn thảo” – hiểu theo nghĩa của từ Đối đồng (對同). Bản sắc là tặng thần hiệu Phu Nghĩa chi thần cho Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y, Đô chỉ huy sứ Đô Thiêm sự (tức Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân).

     Với thần hiệu Phu Nghĩa chi thần, chưa xếp bậc Hạ đẳng, Trung đẳng hay Thượng đẳng thần gì hết, tức đó là sắc ban thần lần đầu tiên cho Dương Đàm hầu.

     Chưa thấy sắc tặng cho Dương Đàm hầu là Thượng đẳng Phúc thần! Chẳng qua chỉ là nghe nói đi rồi tô đậm lại (sic!).

            Xem vậy, các sắc phong của họ Trần ở Hoài Nhơn xét qua sử liệu, thấy nó không là hàng giả. Nhưng mình tâm đắc với cách đặt câu hỏi của chủ nhân status. Mình cũng rất tâm đắc tâm thế của chủ nhân, nên mình nay cũng bắt chước có lời: Dĩ nhiên mình có thể sai, mời người đọc lên tiếng để chúng ta cùng học hỏi.

 Phan Trường Nghị

 .