THEO QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN
1) Đại Nam
nhất thống chí bản thảo năm 1882:
Bản dịch viện Sử học, Nxb Thuận Hóa 2006 chép: (1)
+ Sông Lại Dương ở phía Nam lỵ sở
phủ Hoài Nhơn, rộng 83 trượng, sông sâu nước trong, có hai nguồn:
Một nguồn từ
núi sách Man thuộc nguồn Trà Bình về phía Tây Bắc huyện Bồng Sơn, chảy về phía
Nam qua thủ sở bến Đốc Chính, đến thôn Thanh Lương, chuyển sang phía Đông đến bến
Trường Tân (tục gọi bến Đồng Dài, rộng hơn 20 trượng), ở đây có đồn thủ Trường
Tân có khe núi từ phía Tây Nam chảy vào, lại chảy về phía Đông đến bến thôn Phú
Văn.
Một nguồn từ
khe núi trong sách Man về phía Tây Nam huyện, chảy qua thôn
Hội Đăng, các núi Tổng Vinh, Lỗ Đố và đồn thủ Đình Chí cũ, đến thôn Nhơn Sơn. Đến đây có ngòi Hạ Lý, Húc Tắc ở thôn Nghĩa Điền – phía Nam ven núi chảy vào (tục gọi
Nước Hợp), lại chảy đến thôn Hương Sơn, ở
đây có đồn thủ Thượng Lý, Ô Kim thuộc thôn Nghĩa Điền,
nước khe núi chảy qua thôn Bình Sơn, cùng nước
Kim Sơn, Phú Hữu chảy từ phía Đông hợp vào.
Lại chảy qua bến Đồng Khố thuộc thôn Hội Tỉnh,
đến thôn Tân Thạnh thì có nước khe núi Man
Lăng (giáp địa giới huyện Phù Mỹ) chảy vào. Lại chảy qua bến Mộc Bài, rồi ngoặt
về phía Đông qua thôn Trung Lương, đến thôn Phú Văn, lại chảy về phía Đông qua bến Lại
Dương thuộc thôn Trung An thì chia thành hai
nhánh. Nhánh chảy về Đông Bắc 10 dặm qua địa phận thôn
An Thái, lại chảy 6 dặm đến bến Tân Quan làm sông Tân Quan, lại chảy 9 dặm
rồi đổ vào cửa biển Kim Bồng. Nhánh chảy về Đông qua bến Lại Dương làm sông Lại
Dương rồi đổ vào cửa biển An Dũ.
Năm Tự Đức thứ 3, liệt vào hàng sông
lớn, chép trong điển thờ.
Xét : Sông Tân Quan từ thôn An Thái
(trước là An Quang) trở xuống, nay bồi đắp thành ruộng, chỉ còn đường cũ phỏng
một trượng, nước sâu chừng một thước mà thôi, từ chợ Lộ Ân trở xuống hơi sâu
hơn.
2) Đại Nam
nhất thống chí bản khắc in năm 1910:
Nguyên ngữ Quyển 9 trang 20:
賴陽江在蓬山縣南, 江廣八十三丈,有竒水深而清,舊有浮橋今廢.發源三:
一派從壯水屯, 東北流十三里至金山江,
一派從停誌屯, 南流二十一里,合金山江.又東北流四十四里,合忠良江;
一派從茶平源,長津南流九十一里,至忠良江合襟,轉而東三里許,爲賴陽江,東流二十四里,注于安裕海口.
祠德三年表爲大江 列在祀典.
Phiên âm:
Lại Dương giang tại Bồng Sơn huyện Nam, giang quảng bát
thập tam trượng, hữu kỳ thủy thâm nhi thanh, cựu hữu phù kiều kim phế. Phát nguyên tam:
+ Nhất phái tòng Trang thủy đồn, Đông Bắc lưu thập tam lý chí Kim Sơn
giang;
+ Nhất phái tòng Đình Chí đồn, Nam lưu nhị thập nhất lý, hợp Kim Sơn
giang. Hựu Đông Bắc lưu tứ thập tứ lý, hợp Trung Lương giang;
+ Nhất phái tòng Trà Bình nguyên Trường tân, Nam lưu cửu thập nhất lý, chí Trung
Lương giang hợp khâm.
Chuyển
nhi Đông tam lý, hứa vi Lại Dương giang; Đông lưu nhị thập tứ lý, chú vu An Dũ hải khẩu. Tự Đức
tam niên biểu vi đại giang liệt tại tự điển.
Tạm dịch:
Sông Lại Dương ở phía Nam huyện Bồng Sơn, sông rộng 83
trượng có dư, nước sâu mà trong, xưa có cầu nổi, nay đã bỏ. Sông phát nguyên 3
chỗ:
+ Một dòng từ đồn Trang Thủy, chảy ra Đông Bắc
13 dặm đến sông Kim Sơn
+ Một dòng từ đồn Đình Chí, chảy vào Nam 21 dặm
hiệp với sông Kim Sơn. Lại chảy qua Đông Bắc 44 dặm hiệp với sông Trung Lương.
+ Một dòng từ bến Trường nguồn Trà Bình, chảy
vào Nam 91 dặm đến sông Trung Lương hiệp hết lại.
Sông chuyển chảy qua Đông 3 dặm, như thế làm sông Lại
Dương chảy xuống Đông 24 dặm đổ vào cửa biển An Dũ. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) liệt
hàng sông lớn, chép vào điển thờ.
3) Xét:
Xét bản đồ thời Đồng Khánh thấy:
+ Nhánh từ nguồn Trà Bình tức nhánh
Bắc chảy qua thôn Thanh Lương, trước đây là
thôn Thanh Lương của xã Ân Tín, Hoài Ân.(2)
Rồi chảy theo hướng Đông đến thôn Phú Văn,
trước đây thuộc xã Ân Thạnh, Hoài Ân.(3)
Nay Ân Tín và Ân Thạnh là xã Vạn Đức tỉnh Gia Lai.
+ Nhánh từ các sách Man (làng người
Thượng) tức nhánh Nam có 2 nhánh.
Nhánh phía phải núi Kim Sơn chảy
qua Hội Đăng, Hội Tỉnh trước đây là thôn
Liên Hội xã Ân Hữu, huyện Hoài Ân.(4)
Qua Nghĩa Điền, Nhơn Sơn (nay là thôn Nghĩa
Nhơn) thuộc xã Ân Nghĩa.(5) Ân Hữu
nay là xã Ân Tường. Ân Nghĩa nay là xã Kim Sơn, Gia Lai.
Nhánh phía trái núi Kim Sơn chảy
qua Bình Sơn, Kim Sơn cũng thuộc xã Ân
Nghĩa,(6) Hương Sơn (nay là Xuân Sơn), trước đây thuộc xã Ân Hữu, Hoài Ân.(7) Có khe
từ núi Man Lăng chảy qua Tân Thạnh (nay là Tân
Thành, Diêu Tường, trước thuộc xã Ân Tường Đông),(8)
chảy qua Phú Hữu (trước thuộc xã Ân Tường Tây,
Hoài Ân).(9) Ân Tường Đông, Ân Tường
Tây nay là xã Ân Tường, Gia Lai.
Nhánh Bắc và nhánh Nam hợp tại
Phú Văn và Trung Lương (trước thuộc phường Bồng
Sơn thị xã Hoài Nhơn).(10) Rồi rồi
cùng chảy về Đông qua thôn Trung An (trước cũng
thuộc phường Bồng Sơn thị xã Hoài Nhơn).(11)
Tại đây sông phân làm 2 nhánh, nhánh chảy tiếp ra Đông 9 dặm đổ vào cửa biển An
Dũ, nhánh chảy hướng Đông Bắc 6 dặm qua địa phận thôn
An Thái, trước thuộc phường Tam Quan thị xã Hoài Nhơn,(12) làm sông Tân Quan đổ vào cửa Kim Bồng.
Nhưng xét Sử cục chép: “Sông
Tân Quan từ thôn An Thái (trước là An Quang) trở xuống, nay bồi đắp thành ruộng”
Lời của Sử cục chép từ năm 1882, bản đồ Đồng Khánh vẽ quãng 1887 thấy từ Trung
An đến An Thái đứt quãng, trống trơn. Xét bản đồ ngày nay, từ Trung An phường Bồng Sơn đến An Thái phường Tam Quan, thực trạng còn vết tích nhánh sông Lại nầy, nhưng liệu có đúng
như Đại Nam nhất thống chí đã chép không!
Phan Trường Nghị
(1) Đại Nam
nhất thống chí, Tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 36
(2) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 380
(3) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 388
(4) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 416
(5) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 419&420
(6) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 419&421
(7) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 417
(8) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 404
(9) Làng Xã Bình Định Xưa&Nay, Tập
Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 413
(10) Làng Xã Bình
Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 332
(11) Làng Xã Bình
Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 334&335
(12) Làng Xã Bình
Định Xưa&Nay, Tập Thượng, Nxb Hội Nhà Văn 2025, tr 270



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét