Quốc sử quán triều Nguyễn có miệt thị nhà Tây Sơn hay không!
Đại Nam nhất thống chí bản
Tự Đức năm 1882 chép về núi Lỗ Tây:
+ “Ở thôn Thượng Giang về phía Tây Bắc huyện. Gần về phía Nam có núi Miệt sơn, phía Tây Bắc có núi Lỗ Dương, núi Thạch sơn, núi Lý Văn. Lưng núi có đường đi đến đường An Khê, phía Bắc đường có núi Bà, núi Dừa, núi Độc, núi Cái Đính. Lại ở thôn Định Chiêu về phía Tây Bắc huyện, có núi Bình sơn, có núi Nhạc sơn, lưng núi đều có đường đến An Khê”. (Đại Nam nhất thống chí, Tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 20)
Thôn Thượng Giang nay thuộc xã Bình Khê. Còn thôn Định
Chiêu nay là thôn Định Quang xã Vĩnh Quang tỉnh Gia Lai. Đầu thế kỷ trước, Định
Chiêu phạm húy tên vua Thành Thái nên cải làm Định Quang. Núi Lỗ Tây thuộc xóm
Đồng Vắt của Thượng Giang, giờ là thôn Trung Sơn xã Bình Khê. Trước 1963 Thượng
Sơn cũng thuộc Thượng Giang, giờ là thôn Thượng Sơn xã Bình Khê.
Từ Lỗ Tây đến Thượng Sơn có đường vượt đèo Vạn Tuế phía
hòn Ông Bình lên An Khê. Ngả đèo Mang tức đèo An Khê, cuối thế kỷ 19 đi lại mới
thuận tiện, ngả nầy có hòn Ông Nhạc, cư dân đọc trại là Ông Nhược. Nhạc và Bình
là tên 2 thủ lĩnh Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ của nhà Tây Sơn.
Đại Nam nhất thống chí bản Duy Tân có nguyên ngữ
nên đọc được mặt chữ núi Lỗ Tây là (魯西山). Mục núi Lỗ Tây bản Tự Đức có tiểu
dẫn, đưa Bình sơn và Nhạc sơn vào, chẳng khác nào miệt thị nhà Tây Sơn. Vì ngữ
nghĩa của Lỗ (魯)
chẳng tốt đẹp gì! Trong khi đó núi Lỗ Tây không phải là danh sơn, không hùng vĩ,
nó không lớn so với chung quanh. Nó cũng không có vị trí chiến lược cả về mặt quân sự lẫn kinh tế! Tại
sao Quốc sử quán đưa vào sách! Lại đặt tên núi là Lỗ Tây sơn! Tên núi, tên sông,
khi dân gian đặt, sách thường có chép “tục danh” kia mà.
Thấy được một điều, Quốc sử quán đưa tên núi Lỗ Tây vào sách,
chỉ vì nó nằm gần núi Thuận Ninh, là núi thời Gia Long tên gọi là Tây Sơn lãnh
(西山嶺),
gần hòn Ông Bình mà sách chép là Danh Bình sơn (名平山), tức là những địa danh liên
quan triều đại cũ: nhà Tây Sơn.
Bản thảo Đại Nam nhất thống chí năm Tự Đức thứ 35,
vua chưa cho chép khắc in dù khởi soạn từ năm Tự Đức thứ 15. Đại Nam thực lục
chép năm Nhâm Ngọ 1882 Tự Đức thứ 35:
+ Bản thảo sách Đại Nam nhất thống chí đã
xong. Quan Quốc sử quán tâu xin cho thợ khắc bản in.
Vua bảo rằng : “Cần phải tinh tường mới khắc, để khỏi
bị chê về sau như sách Việt sử cũ. Lại cho bản thảo là cứ theo từ năm Tự Đức thứ
18 trở về trước mà làm, sau này thay đổi tỉnh, đạo (như Quảng Trị, Phú Yên, Hà
Tĩnh năm Tự Đức thứ 18 trở về trước là đạo, sau đổi đặt là tỉnh và các phủ, huyện
thuộc các tỉnh Hà Nội, Ninh Bình, Sơn Tây, Bắc Ninh gián hoặc có chia ra hợp
lúc) và những trung thần, nghĩa sĩ còn nhiều người chưa kịp biên tiếp lại sai
biên thêm từ năm Tự Đức thứ 34 trở về trước làm hạn” (Sau biên thêm chưa kịp tiến trình, đến
năm Hàm Nghi thứ nhất, bản thảo ấy vì có việc bị thất lạc).
Tự Đức đã sai Quốc sử quán: phải chỉnh sửa lại bản thảo Đại
Nam nhất thống chí năm 1882 cho tinh tường, phù hợp với thời thế mới được
khắc in. Có phải chăng sự tinh tường mà vua lưu ý, là liên quan cách ghi chép bản
thảo đối với triều đại cũ, phải chọn lọc, phải cân nhắc. Vì vậy mà Quốc sử quán
đã phải chỉnh sửa, năm 1910 Duy Tân cho khắc in. Dấu vết có sự chỉnh sửa là núi
Thuận Ninh cải làm Đa Đa lãnh (多多嶺), tên đã có từ thời Gia Long là Tây
Sơn lãnh (西山嶺)
có đèo Đa Đa (岧多多),
tách Danh Bình Sơn thành một đề mục riêng, không nằm chung với Lỗ Tây sơn. Nhạc
sơn (岳山) được
chép theo dân gian gọi là hòn Ông Nhược (若山), tránh gọi thẳng tên anh lớn của nhà Tây Sơn. Núi Lỗ Tây trong bản Duy Tân viết đơn giản hơn:
魯西山 在縣西北,南有蔑山,西北有魯陽山,石山,里文山.山腰有路達于安山溪
Lỗ Tây sơn tại huyện Tây Bắc, Nam hữu Miệt sơn, Tây Bắc hữu Lỗ Dương sơn, Thạch sơn, Lý
Văn sơn. Sơn yêu hữu lộ đạt vu An Sơn khê. (Núi Lỗ Tây ở Tây Bắc huyện, phía Nam có Miệt
sơn, Tây Bắc có Lỗ Dương sơn, Thạch sơn, Lý Văn sơn. Lưng núi có đường thông đến
khe An Sơn)
Hòn Ông Bình chép theo đề mục riêng:
名平山 在縣西北,山北半嶺有路達乆安村三岐 路,近山之南曰名若山亦有路通安溪村
Danh Bình sơn tại huyện Tây Bắc, sơn Bắc bán lĩnh hữu
lộ đạt Cửu An thôn tam kỳ lộ, cận sơn chi Nam viết danh Nhược sơn, diệc hữu lộ
thông An Khê thôn. (Núi Ông Bình ở Tây Bắc huyện, nửa núi phía Bắc có đường
thông đến ngã ba thôn Cửu An, phía Nam
có núi Ông Nhược cũng có đường thông đến thôn An Khê)
Năm 1883 Tự Đức băng hà, lại xảy ra biến loạn kinh thành
Huế, Hàm Nghi phải xuất bôn. Sự chỉnh sửa của Quốc sử quán không rốt ráo, Đại
Nam nhất thống chí có sự xiên xẹo, không ngay thẳng của những cây bút viết sử! ◙
Phan Trường Nghị



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét