Năm có bốn mùa, mỗi mùa có
thú riêng. Nguyễn Bỉnh Khiêm yêu thích cái thú của bốn mùa: “Thu ăn măng trúc
Đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen Hạ tắm ao”. Vì chúng ta đang ở mùa Đông, cho nên
bài này, tôi xin lạm bàn về cái thú mùa Đông ở quê tôi.
Mùa
Đông ở đây bắt đầu từ những cơn mưa đầu mùa vào đầu tháng Mười âm lịch, thường
là mưa chiều. “Tháng Mười ngó ra / Tháng Ba ngó vào” (Tục ngữ) ngó đây là ngó
đám mây đen xuất hiện ở hướng bắc, thường phát cơn mưa chiều.
Đến chừng giữa tháng Mười trở đi thì trời bắt đầu có những cơn mưa dầm, mưa tầm tã; nhìn ra dãy núi Bà thấy mây phủ, nhìn lên núi Mò O, thấy tuôn những dòng suối trắng xóa. Mưa dầm vài ba hôm, nước con sông Côn dâng cao. Cái làng quê của tôi đứng co ro trong gió mưa. Đây là lúc, các chợ quê bắt đầu bày bán những chiếc áo tơi lá, áo tơi chiếu cùng những hàng đó, giẹp, nơm, lờ đánh bắt cá đồng; đồng thời nơi gian hàng thực phẩm cũng bày bán những mẹt, những chậu cá đồng tươi sống vừa mới đơm bắt được trong lũ đầu mùa, trong nước lụt ói.
Mấy
ngày nay, người ta thường ở trong nhà, ít đi đâu ra ngoài, vì ngại cảnh đội
mưa, lội bùn. Một hôm, có mấy người khách xuất hiện trên đường làng, họ vừa lội
bùn bì bõm vừa say ngắm lũy tre làng ẩn hiện sau màn mưa, những mái tranh thở
khói lam chiều mà họ cho là đẹp như tranh thủy mặc; được gặp và trò chuyện với
những người đi đơm đó giẹp, đi đứng
nhá,
xúc cua trên cánh đồng nước lụt trắng lăng và nhiều tôm cá. Chẳng những thế, họ
còn được hít thở mùi thơm phức của bánh xèo, cá đồng nướng, cá đồng kho, từ những
mái nhà ai đó lan tỏa theo gió rồi đáp nhẹ vào mũi họ… Cũng nên nói, người quê
tôi có cái thú ăn bánh xèo (đúc tôm thịt, dày) trong hơi mưa lạnh lẽo và tiếng
mưa rơi rả rích. Nếu khách là người phong lưu, bậc tao nhân mặc khách được người
quen trong làng cũng thuộc nòi
tình
cầm chân ở lại, khách sẽ được hưởng bao điều thú vị: Được mời ở trong ngôi nhà
lá mái (hoặc ngôi nhà gạch năm gian hai chái) để hưởng sự ấm áp, được cùng chủ
nhân thù tạc rượu ngon, trà thơm, cơm canh cá đồng, đàm đạo văn chương, ngâm vịnh
theo cái thú: “Thu
ẩm hoàng hoa tửu / Đông ngâm bạch tuyết thi” của người xưa, mặc
cho những cơn gió mưa ở bên ngoài. Cũng có thể ở đây, khách được ngắm vẻ đẹp
“trong tranh” của người thiếu phụ ngồi lặng lẽ “đan
đi đan lại áo len cho chồng” (Thơ TTKH) hoặc nghe chủ
nhân kể câu chuyện một chinh phụ thương chồng ở trong làng, cứ mỗi độ Đông về,
nàng lại sắm áo “ngự
hàn”
gởi ra cho chồng là chinh phu đang ở ngoài biên ải. Cảnh đó, sẽ khiến khách
liên hệ đến câu thơ xưa: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” để có cớ ở nán thêm
vài bữa nữa với chủ nhân, với cái làng quê thịnh tình, hiếu khách. Trời mưa,
làm cho những người có hồn nghệ sĩ hay bâng khuâng nghĩ ngợi, buồn vô cớ: “Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe
trời nằng nặng nghe ta buồn buồn” (Huy Cận) hay nhớ nhau
không rõ nguồn cơn : “Mưa
chi mưa mãi / Lòng nhớ nhung hoài / Nào biết nhớ nhung ai!”
(Lưu Trọng Lư). Trong làng An Định, có kẻ giàu người nghèo. Người giàu mỗi năm
một lần được hưởng cái thú áo dạ áo len, mền đơn mền kép. Ai có bụng tốt thì chạnh
thương người chịu cảnh “cơ hàn”. Dầu sao, những gia đình nghèo cũng cố tìm cho
mình có cái “thú” Đông về. Họ nằm ngủ ổ rơm mà so sánh với người có chăn êm nệm
ấm, họ ăn cá đồng, ăn bánh xèo thỏa thích mà tưởng chừng mùa Đông, mặt nào đó,
đã ưu đãi công bằng cho mọi người. Má mất đã mấy mươi cái giỗ, nhưng anh em
chúng tôi vẫn thường nhắc những kỷ niệm mùa Đông với má. Nhớ cả nhà quanh bếp lửa
hồng sưởi ấm và nghe má kể chuyện “đời xưa”, nhớ những đêm mấy má con cuộn tròn
trong ổ rơm, nhớ dáng má nằm lắng nghe tiếng sấm
cửa
ồ ồ từ Giã (tên gọi các cửa biển, cũng để chỉ cho Quy Nhơn, theo cách gọi của
dân gian thời ấy) vọng lên mà lo chuyện lành dữ của thời tiết…
Rồi
có một ngày thời tiết bỗng khủng khiếp : Mấy hôm nay bầu trời nặng như chì, kế
tiếp là cơn bão từ biển Đông đổ bộ vào.
Cả
vùng thuộc hai bên con sông Côn bị bão lũ, đâu cũng xơ xác, tiêu điều. Trong
làng An Định, những chiếc sõng úp lâu ngày trên rường nhà, nơi hiên nhà nay được
“hạ thủy”. Sõng chở người chạy lũ, chở người đi vớt củi trôi, đi đuổi vịt đàn
trôi lạc… Và
kể cả những chiếc sõng đò dọc đò ngang dưới màu trời đùng đục nặng nề, màu nước
bạc mênh mang. Tôi đã từng chứng kiến những túp nhà tranh gió cuốn, những ngôi
nhà cũ nát trôi sông, những tình cảnh đáng thương và cả những tấm lòng vàng
dành cho nhau để làm dịu nỗi đau của nhau trong ngày bão lũ tàn phá.
Chỉ
có lũ trẻ nhỏ dại khờ chúng tôi là “vô tư” trong những ngày bão lũ. Chúng tôi kéo
nhau đi dẫm nước, chống
sõng, chống bè, lấy bậc thềm nhà mình làm “bến thuyền”, vườn chuối nhà mình làm
“xưởng đóng thuyền bè”… Tôi có kỷ niệm “ngày xưa” với thằng Nhịn, thằng Nghèo,
con Nhín… trong những buổi lén má, lén anh Hai “tổ chức” hạ trộm cây chuối tơ
trong vườn nhà ông Phó Thì để đóng cái bè chuối; với anh Cu Tý, người “khéo”
bày tôi đi giở giẹp trộm, trút cá trộm của ông Mười Thắng để bị ông tóm cổ, nhận nước một
trận thiếu điều chết… Đó, đều là những kỷ niệm đáng xấu hổ.
Ông
Trời in hình bão lâu cũng hết gió, mưa lâu cũng cạn nước, có ráng lắm thì cũng
“Ông tha bà không tha, lụt hăm ba tháng Mười - Âm lịch”. Sau đó, người ta còn
có non một nửa Mùa Đông, một cảnh Đông tàn với những ngày mưa phùn gió bấc. Những
ngày này, nhà nông quê tôi tở mở ra đồng “chồng
cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Nông vụ tấn thời, họ vừa lo
cho vụ Đông Xuân sắp tới vừa kháo nhau: “Năm tới, nhờ mưa thuận gió hòa, đồng
ruộng thế nào cũng tốt, nhà nhà sẽ được cái cảnh no đủ”. Người ta vừa làm vụ Đông
Xuân vừa tổ chức đám cưới, “đẩy mạnh” mùa cưới, bởi lẽ: “Gái sao gái chẳng biết lo / Đại tuyết,
Đông chí nằm co một mình” (Ca dao). Cả tháng nay, nhiều nhà trong
làng An Định cất rạp, chăng đèn kết hoa làm lễ đón dâu mới, đưa con gái về nhà
chồng. Đám cưới rước qua bến đò Bầu Sáo, rước đi trên đường đê hoa gạo nở đỏ rồi
vào làng cho trẻ già trai gái tò mò kéo nhau ra xem họ hàng, xem mặt cô dâu chú
rể, trầm trồ cô dâu chú rể đẹp đôi, xứng
đôi vừa lứa.
Vừa
mới rảnh việc đồng áng, ba tôi liền cuốc mảnh sân rêu nhà mình để trồng rau cải…
Hằng ngày, từ sáng sớm, với ấm chè nóng đặt dưới hiên nhà, kèn thuốc
lá trên môi, ba tôi bón tưới, chăm chút từng rò rau cải, nâng đỡ từng cây hành
ngò… Trải qua mấy tiết Đông chí, Tiểu hàn, sân rau cải của ba tôi lên màu xanh
mượt. Sân rau cải của các nhà khác ở trong làng cũng nhờ công chăm bón mà lên
tươi tốt trong cái se lạnh của buổi cuối Đông.
Và
cũng trong cái se lạnh cuối Đông ấy, chợ làng họp đông người, người làng An Định
sắm mâm cỗ ăn Tết Đông chí để tiễn đưa mùa Đông. Mâm cỗ nhà nào cũng thịt thà,
cơm canh, giò chả, con gà quay tháng Mười mập tròn, tươm mỡ (Ếch tháng Ba gà tháng Mười –
câu nói dân gian). Một hôm, ông Tú An Định (ông tên Lễ, đỗ Tú tài, nhưng người
ta lấy tên làng gọi thay tên ông để tỏ sự kính trọng) đến nhà tôi chơi, đứng hồi
lâu nhìn ngắm những chậu hoa mai, hoa cúc, hoa vạn thọ… trên thềm nhà nở hoa sớm
và những giàn đậu Ngự, đậu Hòa Lan rung rinh hoa trái đầu mùa, ông cao hứng
ngâm : “Ví không có buổi
Đông tàn / Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày Xuân” rồi
theo chân ba tôi vào nhà, uống trà.
Huỳnh Kim Bửu
Hôm qua 18.01, những học trò cũ QTBK : HoMyTai, NguyenDinhThi, NguyenVanChan cùng với vợ chồng BuuChau có đến thăm Thầy ở Khoa Hồi sức Nội - BVĐK Quy Nhơn. Cảm ơn BuuChau đã cho mình biết tin về sức khỏe của Thầy.
Trả lờiXóaQuý bạn có thể ghé lại đây để biết thêm.
Xóa“Ví không có buổi Đông tàn / Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày Xuân” mà theo lời Thầy: "Hai câu thơ còn nhiều liên hệ lắm!" khi Thầy coi bài nầy của tôi!
Trả lờiXóa