Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nov2015. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nov2015. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

BINH BIẾN THÀNH BÌNH ĐỊNH NĂM 1800


Thành Bình Định trước xưa là Thành Đồ Bàn của Chiêm Thành, năm 1778 Nguyễn Nhạc lên ngôi vương đã cho xây đắp lại, đổi tên là Thành Hoàng Đế. Đến khi nhà Tây Sơn bất hòa, Quang Trung Nguyễn Huệ định đô ở Phú Xuân, Hoàng Đế thành của Thái Đức Nguyễn Nhạc mất thực lực nên quen gọi với tên là thành Quy Nhơn.

Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1799, Nguyễn Ánh ở Gia Định ra chiếm lấy được Quy Nhơn, đổi tên là Thành Bình Định. Mùa gió bấc thổi, Nguyễn Ánh về nam, giao lại nơi đây cho Chưởng Hậu quân Võ Tánh và Lễ Bộ thượng thư Ngô Tùng Châu trấn giữ. Tháng giêng năm Canh Thân 1800, đại binh Phú Xuân dưới quyền của Thiếu Phó Trần Quang Diệu và Đại Tư Đồ Võ Văn Dõng vào bao vây Thành Bình Định, hòng đánh chiếm lại Quy Nhơn. Quân giữ thành cùng với Võ Tánh có một quân thứ toàn là người Quy Nhơn, gọi là Quân Ngự Lâm. Có một phiên hiệu của đội quân nầy đã gây ra binh biến nơi thành Bình Định, nếu thành công thì không dễ gì Nguyễn Ánh đã kết thúc sớm cuộc chiến, sớm lấy được Phú Xuân, Thăng Long năm 1802.

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

BÀ TÔI ĂN TRẦU


Sáng nào, bà tôi cũng ăn trầu, sau khi đã giúp má tôi dọn dẹp xong nhà cửa để má bắt đầu công việc của một ngày mới, bà tôi tới ngồi bên cơi trầu đặt trên giường của bà. Cơi trầu của bà là một hộp sơn mài cũ kỹ, nắp hộp to bằng cái đĩa bà thường dùng sắp đồ cúng trong ngày nhà có giỗ.

Bà đựng đủ thứ trong cơi trầu: vài thếp lá trầu xanh, mấy quả cau tươi, chừng một nắm rễ cắt sẵn dài bằng đốt ngón tay, một con dao xếp, bộ cối giã trầu bằng đồng cùng mấy viên thuốc lá rê to bằng quả trứng gà gói trong một lớp lá chuối... Bên giường là một ông bình vôi bằng đất nung mầu đỏ khé và cái ống nhổ bằng đồng thau luôn sáng bóng. Ðôi tay bà khẳng khiu, một tay cầm lá trầu, tay kia cầm dao chìa vôi rọc theo sống lá để chia đôi lá trầu. Xong, bà lấy một nửa lá trầu, dùng bàn tay ủi ủi cho thẳng trước khi quệt vôi, têm trầu. Bà bỏ miếng trầu vừa têm kèm với vài miếng rễ, miếng cau tươi (có khi là cau khô bà ngâm nước trước cho mềm) vào cối giã trầu. Bà ngồi ăn trầu, một chân xếp trên chiếu, một chân dựng đầu gối gác một cánh tay lên đó, miệng nhai bỏm bẻm. Những lúc này, tôi thương bà lắm và thầm mong bà sống lâu.   

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

NÉT TÌNH


Nắng chiều khéo nhuộm màu mây
Chân trời ấy đỏ hây hây ngỏ lời
Chữ tình từng nét rơi rơi
Kết thành khúc nhạc không lời ru sương
Câu thơ gom nhặt dọc đường
Bỗng nhiên có cánh chở hương yêu về
Từ Khánh Phượng
Khóa 5 QuangTrung BinhKhe


Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

THẦY TÔI


Một làn gió bấc thổi qua, cỏ khẽ rùng mình làm màu xanh sắc lại. Màu xanh này làm tôi nhớ lại cái màu xanh mà từ thứ hai đến thứ bảy tôi đều gặp ở hồi xa xa lắm. Màu sắc phục của thầy tôi. Thầy Trần Minh Sư !

Thầy không thể lẫn với bất cứ thầy nào được vì Thầy luôn mặc bộ đồ lính đi dạy. Tôi nghe chồng tôi kể trước khi về dạy ở Trường Tiểu học Quận Lỵ Bình Khê, Thầy dạy ở Trường Tiểu Học Bình Nghi. Thầy dạy lớp chồng của tôi. Ở lớp đó có một học sinh nam cực kì cá biệt, tên là “Ên” Chí (“Ên” là tên đệm mà bạn bè kèm vô vì nghe nói ngày xưa anh này rất bợm và lớn tuổi nhất lớp). Hồi đó, Thầy có một cái xe mô-bi-lét (nếu hết xăng thì dùng như xe đạp) rất oách. Lũ học trò trường làng nghe tiếng xe “bành bạch” là biết Thầy đến rồi. Như mọi hôm, vào lớp là Thầy điểm danh nhưng vắng mất trò Chí “Ên”. Cả lớp nhao nhao . Thầy gọi lớp trưởng hỏi lí do vắng mặt của trò Chí. Lớp trưởng ấp a,ấp úng mãi rồi thưa :

-  Thưa thầy… thưa thầy… trò Chí cưỡi xe của thầy vô Cây Xoài Một rồi ạ.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

THẦY NGUYỄN ĐỒNG - NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐẤT BÌNH KHÊ

Thầy Nguyễn Đồng (1910 - 1991)

Thầy Nguyễn Đồng, hiệu là Kính Sơn, sinh năm Canh Tuất (1910), vào giữa năm âm lịch, tại thôn Phú Hiệp, xã Bình Phú, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay thuộc Thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Thầy là người con thứ hai trong một gia đình có truyền thống đạo đức và văn hóa. Thuở nhỏ, Thầy được học Hán văn tại nhà. Lớn lên theo học trường Pháp - Việt Collège de Quinhon, là tiền thân của trường Quốc Học Qui Nhơn hiện nay. Thầy Nguyễn Đồng đậu bằng Cao Đẳng Tiểu Học Pháp - Việt hay còn gọi là bằng Thành Chung (Diplôme d’Études Primaires Supérieures Franco-Indigène) năm 1929. Là bạn học cùng quê Bình Khê và cùng khóa với Thầy Nguyễn Đồng ở trường Collège de Quinhon còn có hai người bạn thân thiết của Thầy là Nhà thơ Quách Tấn (1910 - 1992) và Nhà sư phạm Nguyễn Châu (1910 - 1972). Sau khi đậu bằng Thành Chung, vì gia đình không có khả năng tài chính, Thầy không thể tiếp tục học lên bậc Tú Tài ở Huế hay ở Hà Nội. Thân phụ của Thầy và gia đình cũng không muốn cho Thầy làm việc với chính quyền Bảo hộ hay Nam triều, nên Thầy không thi vào ngạch Thông phán hay vào trường Hậu bổ. Thầy về nhà lập gia đình và bắt đầu công việc dạy học và giáo dục của mình ở địa phương.