VÀ THÀNH BÌNH ĐỊNH NĂM 1800
Chùa Thập Tháp ở phía Bắc thành Đồ Bàn, thuộc thôn Vạn Thuận
phường An Nhơn Bắc của Gia Lai ngày nay, xưa là thôn Vạn Thạch và Thuận Chánh
ghép lại. Chùa lập năm Quý Hợi 1683 thời chúa Nguyễn Phúc Tần, do hòa thượng Hoán
Bích người Hoa dựng, còn gọi là ngài Nguyên Thiều. Năm Tân Mùi 1691, chúa Nguyễn
Phúc Chu ban cho biển ngạch đề Thập Tháp Di Đà Tự (什塔彌陀寺),
vì sau chùa có 10 tháp của Chiêm Thành nên đặt tên ấy. Năm Minh Mạng lên ngôi,
nhà sư Mật Hoằng ra công trùng tu, từ đó chùa Thập Tháp là danh lam của đất
Bình Định.
1)._
Truyền thuyết Hòn đá chém
Hiện ở bậc tam cấp bước lên phương trượng của chùa, có hòn
đá trắng đẽo gọt vuông vức 1,5m x 1,3m x 0,4m được gọi tên là Hòn Đá Chém.
Dân gian thêu dệt chuyện kể chung quanh hòn đá khá là huyễn hoặc, hoang đường.
Chuyện kể rằng:
+ Tương truyền, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm
thành Hoàng Đế, liền sau đó, Nguyễn Ánh mở cuộc trả thù tàn khốc, nơi máu đổ đầu
rơi nhiều nhất chính là chốn kinh đô xưa, thành Hoàng Đế. Lúc ấy, Nguyễn Ánh
chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ
không trả thù, ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai
khẩn đất mới, ai có tài sẽ được trọng dụng. Để tránh phải sống chui lủi “ngoài vòng pháp luật”, rất
đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện.
Sau đó Nguyễn Ánh trở mặt làm trái,
mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé rồi chôn tập thể. Đao phủ của Nguyễn Ánh
dùng một tảng đá đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, kê đầu nạn nhân lên đó mà chém.
Hàng trăm đầu người lăn lóc trên hòn đá này, máu tràn ra hết lớp này đến lớp
khác đao phủ không màng đến việc lau chùi.(1)
Không những vậy, dân gian còn truyền tụng “hằng đêm, người ta nghe trong tảng đá vẳng ra
tiếng than khóc ai oán, tỏ bày nỗi oan khuất, đau đớn của
con người.” Sư Phước Huệ (1869 – 1945) trụ trì chùa, truyền mang hòn đá về cửa
thiền từ đó các vong hồn được khuây khỏa dần.
Nghĩ cho cùng, chuyện huyễn hoặc không đáng tin là có,
mà cũng chưa hẳn nên gọi là không. Truyền thuyết thường mang tính huyễn hoặc,
nhưng nó cũng thường ẩn chứa bên trong nghi án của lịch sử.
Chỉ vì lời truyền thêu dệt tầng tầng lớp lớp lâu ngày, mà
thành chuyện trở nên hoang đường lệch lạc. Chỉ cần hiểu được: Truyền thuyết Hòn
đá chém liên quan đến việc chém giết quá nhiều người. Đá kia là vật vô tri
mà còn oán hờn than khóc huống chi là con người.
Thử tìm sự kiện lịch sử nào đã khiến người Bình Định ai oán
khóc than!
2. Chiến trận thành Bình Định
năm Canh Thân 1800
Tháng 6 năm Kỷ Mùi 1799 quân Gia Định chiếm được thành Quy
Nhơn, là thành Hoàng đế của nhà Tây Sơn. Nguyễn vương Phúc Ánh cho cải tên
thành nầy làm thành Bình Định, mang nghĩa là đã bình trị, dẹp yên. Danh xưng Bình Định
khởi phát từ đây để chỉ cho vùng đất từ đèo Bình Đê đến đèo Cù Mông. Theo gió
mùa rút về Nam, Nguyễn Ánh lưu chưởng Hậu quân Võ Tánh cùng Lễ bộ Thượng thư
Ngô Tùng Châu trấn giữ thành Bình Định. Quân binh dưới sự điều bát của Võ Tánh
ngoài Hậu quân dưới quyền gồm cả tướng sĩ vệ Võ Lương Trung chi Hữu quân,
đội Thuộc viên Trung chi Tiền quân, Tả chi Túc Uy dinh Tiên phong, hai vệ Thiên Trường và
Tín Trực, cộng với một vạn quân Xiêm (đúng hơn là quân Chân Lạp).(2)
Ngoài
ra còn có Trung, Tiền và Hậu Đồn của binh chủng Ngũ đồn Ngự lâm quân, Tả đồn và Hữu đồn đang ở trong Gia Định. Ngũ đồn quân Ngự Lâm do Nguyễn vương Phúc Ánh
lập vào tháng 8 năm 1799. Lính là dân binh 3 huyện ở Bình Định, tướng lĩnh chỉ
huy là hàng tướng Tây Sơn mới theo về với quân Gia Định hay từ trước. Nguyễn vương
lập Ngũ Đồn Ngự lâm quân theo mô hình binh chủng Thần Sách
quân đã xây dựng ở Gia Định. Lấy phiên hiệu là Ngự lâm quân, Nguyễn
Ánh áp đặt tự kỷ ám thị vào binh lính, xem đây là lính của vua Thái Đức, đánh binh
Phú Xuân của Quang Toản trả thù cho vua Thái Đức.
Tháng
Giêng năm 1800, bộ binh của Trần Quang Diệu từ Phú Xuân vào đắp lũy vây chặt
thành Bình Định tới mấy lớp, thủy binh của Võ Văn Dũng án ngữ cửa Thị Nại chặn
quân cứu viện. Được tin báo, Nguyễn vương bảo với các tướng:
+ Lương thực trong thành Bình
Định đủ chi dùng một năm, đợi Xuân sang
năm thuận gió sẽ đem quân cứu, cũng chưa muộn.(3)
Nguyễn
Ánh tin tưởng vào bố trí binh lực của mình, dựa vào lương thực đã thu chứa được
ở thành Bình Định năm 1799 trước khi về Nam. Nhưng sự biến của chiến trường làm
sao lường hết được. Hàng tướng Phạm Văn Điềm ở Phú Yên đã gây khốn đốn cho quân
Nam,(4) đánh
úp binh Phú Yên đang chở tiền lương ra Bình Định, lưu thủ Phú Yên không biết sống
chết thế nào. Phạm Văn Điềm liên kết với quân Tây Sơn chiếm giữ Phú Yên không
cho viện binh Diên Khánh tiến ra. Nguyễn Ánh bấy giờ vẫn điềm nhiên: “Nay trong thành quân tinh lương đủ, có Võ Tánh ở đó, có
thể giữ được không lo”.
Nhưng sang
tháng 4 năm 1800 ở thành Bình Định lại xảy ra sự biến:
+ Bọn hàng tướng ở thành
Bình Định là Trưởng chi Trung chi Hậu đồn quân Ngự lâm Võ Văn Sự và Trưởng chi
Hữu chi Nguyễn Bá Phong đem đồ đảng làm phản, giết quân ta, mở cửa thành phía Bắc để đầu hàng giặc.(5)
Lúc nầy
Nguyễn Ánh mới cử đại binh ra Quy Nhơn, lưu Đông cung Cảnh ở lại giữ Gia Định. Sự
biến Hậu đồn Ngự lâm quân làm phản, mở cửa thành phía Bắc để về với Tây Sơn
làm Nguyễn vương phải xuất quân. Không gọi đây là sự biến, mà phải gọi là binh
biến mới hợp với bối cảnh lịch sử đương thời. Lính làm binh biến không phải làm
phản, họ chạy về phía Trần Quang Diệu vì họ vốn là người đất Bình Định Tây Sơn.
Ngày xưa với chiến tranh, ai cũng đều vì chủ nấy. Ngũ đồn Ngự lâm quân lập
chỉ mới mấy tháng, binh lính quay về với Tây Sơn là điều không đáng để trách cứ.
Huống hồ việc làm binh biến của Hậu đồn là đã có sự chuẩn bị của tướng lãnh cấp
cao.
Theo lá
thư của giáo sĩ Longer gửi ngày 04.9.1801 cho 2 giáo sĩ Boiret và
Descourvières, thư cho biết Trần Quang Diệu đem binh vào Bình Định phong tỏa
thành với hy vọng chiếm được nhờ vào một cuộc nội phản ở đây:
+ Tháng Giêng năm 1800, một trong hai tướng kể trên dẫn một đạo bộ
quân hùng hậu vào cố đoạt lại thành Qui phủ. Có kẻ nội phản đã mở cho tướng ấy
một lối đi và sau khi lọt được vào tỉnh Qui Nhơn, tướng ấy bèn phong tỏa thành
Qui phủ và hy vọng chiếm được nhờ vào cuộc nội phản mới.(6)
Sự chuẩn
bị binh biến không phải ở Trưởng chi Trung chi Võ Văn Sự cùng Trưởng chi Hữu chi
Nguyễn Bá Phong của Hậu đồn, mà phải ở cấp cao hơn. Liên lạc được với Trần
Quang Diệu khi vào Bình Định, thì chỉ có vai trò của Đô Thống chế và Phó Thống
chế Hậu đồn mà thôi. Lúc mới thành lập Ngũ đồn, Đô Thống chế Hậu đồn là
Vệ úy vệ Diệu Võ của Thần Sách quân Nguyễn Văn Phát người Phù Ly, còn
Phó Thống chế là Đô đốc Hồ Văn Viện mới theo về với quân Gia Định năm 1799.
Tháng 9
năm Kỷ Mùi 1799, Phó Thống chế Hồ Văn Viện xin lập 3 đội Chiến Võ quân Lạc
tòng, thu gom những chiến binh lưu lạc không sổ sách gọi là vui vẻ theo về với
quân ngũ.(7) Rồi Đô Thống chế Hậu
đồn Nguyễn Văn Phát và Tham tri bộ Binh Hồ Văn Định đều bị miễn chức, cũng vì
nhập nhằng sổ sách của Chiến Võ quân Lạc tòng và lính trốn trong quân. Nguyễn
Ánh điều Thống chế Trung Đồn là Hoàng Công Thành sang quản lãnh Hậu Đồn.(8) Sau Hoàng Công Thành chết trong quân thứ,
được thờ ở thành Bình Định cùng với Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Còn Phó Thống chế
Hồ Văn Viện sau vụ thành lập Chiến Võ quân Lạc tòng, không thấy chép
trong Thực lục nữa. Nhưng người chỉ huy binh biến ở thành Bình Định
tháng 4 năm Canh Thân 1800, đồ rằng không ai khác hơn là Đô đốc Phó Thống chế Hồ
Văn Viện.
Binh biến
của Hậu đồn không thành, Võ Tánh đã ngăn chặn được. Theo Đại Nam thực lục,
nhờ Vệ úy vệ Nhuệ Phong là Ngô Văn Sở đã liều chết chiếm giữ cửa:
+ Võ Tánh sai Vệ úy vệ
Nhuệ Phong là Ngô Văn Sở chiếm giữ cửa, bọn quân phản đã ra trước ngoài thành
hơn 400 người, còn dư thì không dám ra. Tánh liền xét bọn đồng mưu đem giết hết,
phòng giữ nghiêm mật hơn.(9)
Võ Tánh
liền xét bọn đồng mưu đem giết hết. Theo Hoàng Việt hưng long chí của Ngô Giáp Đậu, một tác gia của Ngô
Gia văn phái biên soạn năm 1904 thì cũng cho rằng số quân gây biến còn lại
trong thành bị Võ Tánh đem giết cả:
+ “Phe đảng của Bá Phong lúc ấy đã lọt ra ngoài hơn bốn trăm người. Số còn
lại ở trong thành không dám động đậy. Võ Tánh lo bọn họ sẽ lại làm phản, bèn ra
lệnh đem giết cả.(10)
Còn thư
của giáo sĩ Longer gởi Boiret và Descourvières ngày 4.9.1801, cho thấy rõ hơn con số binh
lính gây biến còn ở trong thành bị Võ Tánh đem ra hành quyết:
+ May thay tướng giữ thành vốn là một
người can trường và trước kia đã cầm cự nổi một cuộc bao vây kéo dài từ 7 đến 9
tháng ở Nha Trang, khám phá được âm mưu của bọn làm phản. Độ 500 kẻ đã chạy
thoát, số khác bị bắt và bị hành quyết chừng bảy, tám trăm người. Vì thành trì được
trang bị đầy đủ, quân địch bao vây bị cầm chân, không làm gì nổi.(11)
Con số bị giết trong lá thư của giáo sĩ Longer quả thật khủng
khiếp. Hành quyết tới bảy, tám trăm người, phải giết liền để tránh hậu họa, giết
bao nhiêu ngày mới xong! Phải chăng truyền thuyết thêu dệt chung quanh “Hòn Đá Chém” ở chùa Thập Tháp ngày nay
là từ sự kiện nầy. Chùa Thập Tháp ở phía
cửa Bắc của thành Bình Định là nơi lính Hậu đồn thoát ra để chạy về phòng tuyến
của Trần Quang Diệu.
● Con số lính bị hành quyết của Quốc
sử quán và Ngô gia văn phái khá mơ hồ. Còn trong thư của giáo sĩ Longer có đáng
tin cậy không!
Nếu xét “chi hiệu đội ngũ” của Ngũ Đồn quân Ngự lâm lúc thiết lập,
dưới Đội còn có Thập và Ngũ thì mỗi Đội có 5 thập, tức mỗi Hiệu có 100 quân, mỗi
Chi chừng 500, dẫn đến mỗi Đồn khoảng 2.500 quân. Cộng lại 5 Đồn được 12.500, gần
đúng với 2/3 số lính kén tuyển ở 6 thuộc (An
Nghĩa, Nhơn Ân, Nghĩa Hòa, Sơn Điền, Võng Nhi, Hà Bạc) của 3 huyện là hơn
18.900 dân binh. Riêng 2 thuộc Võng Nhi và Hà Bạc với các xã miền dưới cho bổ
làm thủy quân.(12)
Xét vậy
thì thấy số quân thoát được và bị hành quyết phải trên quân số 2 Chi. Như vậy
khớp với sự kiện đã ghi nhận lính làm binh biến, là Trung chi của Đô đốc Võ Văn
Sự, và Hữu chi của Đô đốc Nguyễn Bá Phong, dưới sự thống lãnh của Phó Thống chế
Hậu đồn Đô đốc Hồ Văn Viện.
Sau trong
Đại Nam thực lục thấy chép Đô đốc Võ Văn Sự và Nguyễn Bá Phong tham dự
các trận đánh chống lại quân Nam. Trong một lá thư của Barisy viết cho Marquini
và Letondal ngày 16.7.1801, cho biết ông thấy Đô đốc Nguyễn Bá Phong trong tù ở
Huế đeo gông xiềng nặng, còn bị xích vào cột.(13)
3.
Oán hờn của Hòn đá chém
Binh biến ở thành Bình Định tháng 4 năm 1800 đến nay đã hơn
200 năm, Hòn đá chém ở chùa Thập Tháp đã ghi nhận nỗi oán hờn khóc than của dân
binh Bình Định. Nó không hẳn là hòn đá kê đầu tội nhân để đao phủ hành hình như
lời truyền. Nó là chứng tích của sự kiện lịch sử: Võ Tánh đã hành quyết bảy,
tám trăm lính làm binh biến để mong giữ yên thành Bình Định.
Lịch sử đã khép lại, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu khép sinh mạng
mình trong biển lửa và chén thuốc độc, làm tròn trách nhiệm của tướng giữ
thành. Trần Quang Diệu dùng lễ nghi chôn cất họ bên lầu Bát Giác,(14) thực hiện đúng vai trò của người chiến thắng,
trọng nghĩa khí của người thua cuộc. Dân Bình Định ai oán khóc than nhưng không
oán thù Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, sau nầy họ vẫn đến mộ hai ông bái viếng để
bày tỏ sự trọng vọng nghĩa khí của hai ông.
Nói cho cùng, thời Xuân Thu ở đất nước Trung Hoa không có
cuộc chiến tranh nào mà chính nghĩa cả, ở Việt Nam thời phân tranh giành giật
quyền lực cũng vậy. Chiến tranh chỉ đưa đến chết chóc và hận thù, chiến tranh
là nhà cháy máu chảy đầu rơi. Trong tâm thức dân gian của người Việt, hận thù
nên cởi không nên buộc, oán hờn than khóc chỉ là ký ức thoáng qua mau, thức tỉnh
nỗi đau thân phận con người, bao dung cuộc sống với nhau mới là điều đáng lưu tâm.
◙
Chú Thích:
(1) https://phatgiao.org.vn
ngày 03.9.2019
(2) Đại
Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 423
(3) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 432
(4) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 433
(5) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 438
(6) Tập san Sử Địa,
số 21, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1971, tr 143
(7) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 424
(8) Đại Nam thực lục,
tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 431
(9) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001
bản pdf, tr 438
(10) Hoàng
Việt hưng long chí, Nxb Văn học 1993 bản pdf, tr 122
(11) Tập
san Sử Địa, số 21, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1971, tr 144
(12) Đại
Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 419
(13) Tập
san Sử Địa, số 21, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1971, tr 183
(14) Đại
Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001 bản pdf, tr 478



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét