Drop Down MenusCSS Drop Down MenuPure CSS Dropdown Menu
Trang Giao Lưu Cựu HS Trung Học Quang Trung Bình Khê - Bình Định

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

PHONG TRÀO TÂY SƠN

 SÁCH LƯỢC CỦA NGUYỄN NHẠC ĐỐI VỚI BẮC HÀ

Lính Đàng Trong năm 1792
(Tranh của William Alexander in trong sách của Barrow)


          Nhà Tây Sơn kể từ lúc Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế ở phủ Quy Nhơn năm 1778, tính đến năm 1802 là năm vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) cùng các tướng lĩnh Tây Sơn bị Nguyễn Ánh xử tử trong lễ hiến phù ở Phú Xuân, một triều đại vỏn vẹn chỉ 25 năm đã để lại cho hậu thế cả niềm tự hào dân tộc, lẫn ngậm ngùi với tuần hoàn của lẽ thịnh suy, hưng phế. Ngay từ lúc khởi nghiệp, Thái Đức Nguyễn Nhạc đã có chủ trương “hòa Bắc đánh Nam”, cũng từ sách lược này mà giữa ông với Quang Trung Nguyễn Huệ không có sự đồng thuận. Năm 1787, Nguyễn Huệ đem binh vào Quy Nhơn đánh anh, khiến hậu thế cho là anh em giành ngôi vị và tranh của cải lấy ở Thăng Long.

          Tiểu thuyết chương hồi Hoàng Việt hưng long chí của Ngô Giáp Đậu (1853-1929), một tác gia dòng Ngô gia văn phái phản ánh sự kiện anh em Tây Sơn thù oán nhau sau khi ra Bắc dứt chúa Trịnh năm 1786:

Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình dẫn tùy tùng về Quy Nhơn. Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh, Huệ từ chối không nộp, muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam, nhưng Nhạc không cho, Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Phe cánh của Nhạc là Đặng Văn Trấn để tham đốc Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định rồi đem quân về cứu viện, nhưng khi đến Phú Yên bị quân Huệ bắt. Nhạc đứng trên thành khóc gọi Huệ, rồi anh em cùng hòa giải, nhưng thực lòng vẫn thù oán nhau”.(1)

          Để có cái nhìn sáng sủa hơn về mối bất hòa của hai anh em nhà Tây Sơn cũng như chủ trương “hòa Bắc đánh Nam” của Nguyễn Nhạc, thử nhìn lại quá trình nhà Tây Sơn dấy nghiệp, dựng lên một triều đại bằng mồ hôi chinh Nam phạt Bắc.

1) Bước khởi nghiệp của Nhà Tây Sơn từ 1771 đến 1778:

          Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn chép Nguyễn Nhạc làm Biện lại ở bến tuần Vân Đồn, tiêu mất tiền thuế nên trốn vào núi làm kẻ cướp. Nhưng đúng ra phải là ba anh em nhà Tây Sơn Nhạc, Huệ, Lữ lên Tây Sơn thượng, tụ nghĩa luyện binh để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy mà John Barrow, một người Anh đã ghi nhận trong tác phẩm A Voyage to CochinChina in the Year 1792 and 1793 (Hành trình đến xứ Đàng Trong năm 1792-1793) xuất bản ở London năm 1806:

Cuộc nổi dậy do ba anh em cầm đầu. Tên của người anh lớn Yin-yac [Nguyễn Nhạc], một thương nhân giàu có đã xúc tiến công việc buôn bán rộng mở với Trung Hoa và Nhật Bản. Người thứ hai là Long-niang [Long Nhương, chức hiệu của Nguyễn Huệ], một tướng lĩnh cao cấp và là nhà chỉ huy vĩ đại. Còn người thứ ba là một tu sĩ [là Nguyễn Lữ]. Một sự kết hợp lợi hại giữa tài lực, sức mạnh quân sự và sức ảnh hưởng tinh thần trong dân chúng”.

Bản tiếng Anh của John Barrow:

This rebellion was headed by three brothers. The eldest, whose name was Yin-yac, was a wealthy merchant who carried on an extensive commerce with China and Japan; the name of the second was Long-niang, a general officer of high rank and great command; and the third was a priest. Such a dangerous combination of wealth, of military power, and of influence over the minds of the people”.(2)

          Quân nổi dậy quy tụ được những hào kiệt bấy lâu vốn chán ngán ngôi chúa Đàng Trong thống trị dưới sự chi phối của quyền thần Trương Phúc Loan. Dưới ngọn cờ của quân nổi dậy có giới thảo khấu lục lâm như Nhưng Huy, Tư Linh, cả bọn khách thương hải tặc như Tập Đình, Lý Tài cũng theo về dưới trướng. Hỗn độn, thu nạp mọi thành phần, nhưng năm 1773 quân nổi dậy đã nhanh chóng đánh chiếm phủ Quy Nhơn, rồi lấn ra Quảng Ngãi, thanh oai đủ để làm các thế lực phải e dè lẫn nể phục.

          Ở Đàng Ngoài, Tháng 5 năm 1774 sau khi bình được Hoàng Văn Chất ở Hưng Hóa và Lê Duy Mật ở Trấn Ninh, được tin Nguyễn Nhạc nổi dậy ở Quy Nhơn, Trịnh Sâm thừa cơ muốn xâm lấn Đàng Trong. Hoàng Ngũ Phúc được cử làm đại tướng nắm 3 vạn quân tiến xuống Nam, phao tin là giúp chúa Nguyễn đánh Tây Sơn. Tháng 10 quân Trịnh vượt qua sông Gianh. Trịnh Sâm thống suất đại binh xuống Nghệ An để làm thanh thế viện trợ cho Hoàng Ngũ Phúc.(3)

          Hoàng Ngũ Phúc truyền hịch kể tội Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy tạo nên loạn lạc. Các tướng Nguyễn Cửu Pháp, Tôn Thất Huống ở Đàng Trong thừa thế bắt Trương Phúc Loan nộp cho Hoàng Ngũ Phúc. Quân Trịnh vẫn đưa binh chiếm lấy Phú Xuân, Chúa Duệ Tông phải chạy vào Quảng Nam. Tháng Giêng năm Ất Mùi 1775 Hoàng Ngũ Phúc lãnh chức Đại Trấn phủ, toàn quyền xứ Thuận Hóa.

          Tháng 2 năm 1775, Hoàng Ngũ Phúc vượt Hải Vân tiến vào Quảng Nam, Nguyễn Nhạc và Tập Đình, Lý Tài cũng trẩy quân từ Quảng Ngãi tiến ra. Chúa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần bỏ mặc Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương ở lại Quảng Nam, xuống thuyền chạy vào Gia Định lánh nạn. Quân Trịnh đánh bại quân Tây Sơn ở Cẩm Sa. Tập Đình chạy trốn về Tàu, Nguyễn Nhạc đón Hoàng tôn Dương lui về Quy Nhơn, rồi sai người ra cầu hòa với quân Trịnh. Hoàng Ngũ Phúc dâng biểu về triều xin cho Nguyễn Nhạc làm Tiền phong Tướng quân, giữ chức “Hiệu trưởng Tây Sơn”.(4)

          Phía mặt Nam, tháng 7 Nguyễn Huệ đại phá binh của Tống Phước Hiệp ở Phú Yên. Tống Phước Hiệp phải lui về giữ Hòn Khói (thuộc Khánh Hòa).(5) Nguyễn Huệ được chúa Trịnh ban chức “Tây Sơn hiệu Tiền phong tướng quân”.

          Tháng 10, Hoàng Ngũ Phúc đóng binh ở Châu Ổ (Quảng Ngãi), gặp dịch bệnh phải lui về Phú Xuân. Nguyễn Nhạc thừa cơ chiếm lấy Quảng Nam.

          Tháng 2 năm 1776 Nguyễn Lữ đem thủy binh vào thẳng Sài Gòn, chúa Duệ Tông chạy về Trấn Biên (Biên Hòa), triệu Tống Phước Hiệp ở Bình Khang (thuộc Khánh Hòa) về cứu giá. Tháng 5 quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn từ Định Tường tiến lên lấy lại được Sài Gòn, Nguyễn Lữ bỏ chạy về Quy Nhơn. Đến tháng 6 thì Tống Phước Hiệp mất, Đỗ Thanh Nhơn rước Duệ Tông xuống Bến Nghé.(6)

          Tháng 10, Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương trốn khỏi Quy Nhơn, vượt biển vào Nam. Lý Tài trước đã hàng Tống Phước Hiệp ở Phú Yên, bấy giờ đóng binh ở Chiêu Thái (Biên Hòa) chống lại quân Đông Sơn, tôn Nguyễn Phúc Dương làm Tân Chính vương, đưa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần làm Thái Thượng vương. Lý Tài được làm Bảo giá Đại tướng quân.(7)

          Tháng 3 năm 1777 Nguyễn Huệ đưa thủy bộ binh vào Nam, Lý Tài bỏ chạy về Định Tường, hoảng loạn giữa đám tàn binh bị quân Đông Sơn giết ở Tam Phụ (Ba Giồng). Tháng 8 quân Tây Sơn đánh tới Vĩnh Long, Tân Chính vương bị hại, Tháng 9 tiến tới Long Xuyên, Thái Thượng vương chết. Nghiệp chúa Đàng Trong bị dứt, chỉ còn Nguyễn Ánh thoát ra được đảo Thổ Châu. Nguyễn Huệ lui về Quy Nhơn, để Tổng đốc Chu, Hổ tướng Hãn, Tư khấu Oai chia giữ các dinh ở Gia Định.(8)

          Tháng Giêng năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Ánh được Đỗ Thanh Nhơn vời về Sài Gòn tôn làm Đại nguyên soái nắm ba quân. Bấy giờ ở phủ Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Thái Đức, lập triều đình, thành Đồ Bàn đã tu sửa xong đặt tên thành Hoàng Đế, sẵn sàng đương đầu với cả Trịnh lẫn Nguyễn.

          Tóm lại, trong giai đoạn khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, mặt phía Bắc chúa Trịnh Sâm từ trước đã ngại đưa binh sâu xuống Nam, thủy thổ không hạp với lính Bắc hà, hồi 1775 quân Trịnh đã lấn tới Quảng Ngãi nhưng rồi phải lui về Phú Xuân. Năm 1777 chúa Trịnh đành bổ dụng Nguyễn Nhạc giữ chức “Trấn thủ Tuyên úy Đại sứ”, được quyền trưng dụng phú thuế xứ Quảng. Phú thuế, lương thảo là thành tố cốt lõi để củng cố, phát triển thế lực. Sách lược “lấy của người giàu chia cho người nghèo” giai đoạn khởi nghiệp, Tây Sơn không đủ để nuôi dưỡng phong trào lớn mạnh, hồi năm 1776 Nguyễn Lữ khi chạy về Quy Nhơn cũng phải chở theo hơn 200 thuyền thóc của kho Gia Định. Vựa lúa Gia Định thừa mứa nuôi quân của Nguyễn Ánh, sau nầy dù tan tác thất trận phải trốn chạy khắp nơi, nhưng Nguyễn Ánh nhờ đó vẫn kiên trì đứng dậy.

          Ở phía mặt Nam, binh lực lẫn tiềm lực chiến tranh của Tây Sơn trong lúc này vẫn chưa đủ để vẫy vùng thỏa mãn. Quân binh của Nguyễn Huệ từng vào tới Gia Định dứt được nghiệp chúa của Duệ Tông, nhưng từ Phú Yên đến Bình Thuận vẫn còn quân của Châu Văn Tiếp, Trần Văn Thức nhận lệnh của Duệ Tông chiếm đóng.

2) Nhà Tây Sơn giai đoạn 1778 – 1787

          Năm 1778 Thái Đức Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế. Năm 1780, ở trong Nam nhờ Đỗ Thanh Nhân giúp rập tôn phù nên Nguyễn Ánh cũng lên ngôi vương. Đất Gia Định được chia làm 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ, lại đặt thêm dinh Trường Đồn (là Định Tường), mỗi dinh đặt các chức Luu thủ, Cai bạ, Ký lục. Nhưng tại Trà Vinh có Thổ tù Chân Lạp là Suất đứng lên chống lại chính quyền, Đỗ Thanh Nhân cùng Dương Công Trừng ra sức tảo thanh mới bắt được Ốc nha Suất. Đỗ Thanh Nhân có công tôn phù, nhiều công lao hãn mã chiến trận, nhưng tháng ba năm 1781 lại bị Nguyễn vương Phúc Ánh mưu hại. Từ đó Nguyễn Ánh phải vất vả đối phó cuộc Nam chinh do đích thân Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ chỉ huy.

          Tháng 3 năm 1782, thuyền Tây Sơn vào cửa Cần Giờ, thủy binh Gia Định rút lui, viên Cai cơ người Pháp là Mạn Hòe (Emmanuel) điều khiển chiếc tàu bọc đồng ra sức chống cự, nhưng tàu bị đốt cháy, Emmanuel tử trận. Bến Nghé lọt về tay nhà Tây Sơn. Phúc Ánh chạy xuống Tam Phụ (thuộc Định Tường), quân của Tôn Thất Dụ từ Bình Thuận vào cứu giá, thắng được trận ở cầu Tham Lương nhưng bị đuổi đánh tới tận Rạch Giá. Nguyễn vương chạy ra đảo Phú Quốc. Đến tháng 5, Thái Đức Nguyễn Nhạc cùng Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ về Quy Nhơn, cho hàng tướng Đỗ Nhàn Trập cùng Hộ bộ Bá lãnh 3.000 binh đóng giữ Bến Nghé.(9)

          Tháng 8 năm 1782, Châu Văn Tiếp dựng cờ Lương sơn tá quốc từ Phú Yên đem binh vào giúp Nguyễn vương, Đỗ Nhàn Trập cùng Hộ bộ Bá chạy về Quy Nhơn. Châu Văn Tiếp rước Nguyễn Vương về Sài Côn. Tháng hai năm 1783 thuyền của Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Gia Định, quân của Nguyễn vương thua to, Tôn Thất Mân chết, Dương Công Trừng bị bắt, Châu Văn Tiếp tháo chạy, quân binh Chân Lạp của Nguyễn Huỳnh Đức đến ứng cứu cũng bị đánh tan tác. Nguyễn vương đào thoát ra Phú Quốc, suýt bị quân Tây Sơn bắt được nếu không có Cai cơ Lê Phước Điển mặc hoàng bào liều mình thế mạng.

          Tháng 7 năm 1783 Nguyễn vương Phúc Ánh ủy thác Hoàng tử Cảnh mới 4 tuổi cho Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) mang sang Pháp để làm con tin xin đem quân sang giúp.(10) Bá Đa Lộc đi rồi, Phúc Ánh cũng tìm đường sang Xiêm (Thái Lan) cầu viện. Thấy binh lực của Nguyễn vương đã kiệt quệ, tháng 8 năm 1783, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ rút về Quy Nhơn, để Phò mã Trương Văn Đa cùng Chưởng tiền Bảo ở lại giữ Gia Định.

          Tháng 6 năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm về, vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương mang 2 vạn thủy quân và 300 chiến thuyền theo giúp, Châu Văn Tiếp được phong Bình Tây Đại đô đốc.(11) Tháng 10 Châu Văn Tiếp tiến đánh Chưởng tiền Bảo ở sông Mân Thít (thuộc Vĩnh Long), Châu Văn Tiếp bị quân Tây Sơn giết, nhưng trong chiến trận hỗn loạn Chưởng tiền Bảo cũng tử thương.

          Tháng Chạp, Nguyễn Huệ mang binh thuyền vào ứng cứu. Quân Xiêm bị phục binh tại Sầm giang (rạch Gầm) và Miệt giang (kinh Xoài Mút) ở Mỹ Tho, 2 vạn quân chỉ còn vài nghìn lính theo đường núi Chân Lạp chạy về. Nguyễn Vương bị đuổi tới đảo Cổ Cốt (Koh Kood), phải sang Xiêm trốn bước hoạn nạn trú ngụ ở ngoại thành Bangkok. Bọn triều thần tòng vong cũng lục tục đến, được sai đi làm đồn điền để cấp lương thực cho quân binh.(12)

          Ở Gia Định, quân của Nguyễn Vương ráng vùng vẫy chống cự nhà Tây Sơn, nhưng Dương Công Trừng bị Phạm Văn Tham bắt giết. Mặt Nam không còn áp lực, Thái Đức Nguyễn Nhạc hướng quay ra Bắc.

          Tháng Năm năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ được lệnh ra đánh Thuận Hóa. Phạm Ngô Cầu kéo cờ trắng dâng thành, bỏ mặt cha con Phó tướng Hoàng Đình Thể cùng các thuộc tướng quyết chiến chịu chết trên bành voi. Nghe theo bày vẽ của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ bèn giao Thuận Hóa cho Nguyễn Lữ đóng giữ, đoạn thống lĩnh đại quân kéo quân ra Bắc hà. Trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Toại bỏ chạy, thủy binh Tây Sơn đánh vào Thăng Long. Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch bấy giờ chép là quân của Nguyễn Huệ “Thuyền đi như vào chốn không người. Quân đi đến đâu như gió lướt đến đó, không ai dám chống cự”.(13)

          Quân Tây Sơn tiến đến huyện Thanh Trì, Quản cơ Ngô Cảnh Hoàn chặn ở bến Thúy Ái, nhưng ba cha con đều tử trận, binh của đại tướng Hoàng Phùng Cơ cũng tan tác. Chúa Trịnh Khải trốn chạy về Sơn Tây, sau bị bắt nạp nhưng giữa đường Chúa tìm cách tự vẫn. Ngày 26 tháng Sáu năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long. Tháng bảy vua Lê Hiển Tông phong Nguyễn Huệ làm Đại nguyên soái Phụ quốc chính và gả công chúa Ngọc Hân cho. Ngày 17 tháng sau vua mất, Hoàng thái tôn Duy Kỳ nối ngôi, đặt năm sau là năm Chiêu Thống thứ nhất.

          Được tin Nguyễn Huệ tự quyền đánh Bắc hà, Nguyễn Nhạc vội vã viết thư ngăn lại. Nhưng thư đi chưa đến nơi thì binh của Nguyễn Huệ đã ra Bắc rồi. Thái Đức Nguyễn Nhạc vội mang 500 lính thị vệ đến Phú Xuân, lấy thêm 2000 quân nữa rồi cũng hối hả ra Bắc.(14)

          Hoàng Lê nhất thống chí mô tả đoàn quân của vua Tây Sơn hấp tấp đến kinh sư, mặt mũi hốc hác, tiều tụy. Điều này khiến thiên hạ bất ngờ, đồn đại lung tung, không rõ vua Tây Sơn ra Bắc để làm gì. Thái Đức Nguyễn Nhạc bất ngờ đến, mà cũng bất ngờ rời Thăng Long. Trong Nhật ký của Hội Truyền giáo ở phía Bắc (là Bắc kỳ) lưu trữ tại Nha Văn khố Paris, giáo sĩ Le Roy ở địa phận Nam Định gửi thư cho Giám mục La Bartelte ngày 6.10.1786 đã ghi nhận:

Người đó chính là Nhạc, ông chỉ lưu tại Kẻ Chợ có 2, 3 ngày, rồi ông lại hấp tấp trở về qua xứ Nghệ và Bố Chính, tất cả đội ngũ Nam kỳ về theo ông kẻ theo đường bể, người đường bộ. Không ai ngờ tới chuyện này cả…”.(15)

          Tháng 8 năm 1786, Nguyễn Nhạc về đến Quy Nhơn, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương đóng ở Thuận Hóa, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định vương giữ mặt Nam.(16)

          Sau khi Nguyễn Huệ nhận vương hiệu Bắc Bình vương, tháng 10 năm 1787 mối bất hòa, hục hặc giữa hai anh em nhà Tây Sơn xảy ra. Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch chép:

Nguyễn Huệ tự phụ là người hùng tài, thế lực đã ngang nhau, rút Nguyễn Đĩnh về Thuận Hóa. Vì cớ tranh giành tiền của dẫn quân đánh anh là Nguyễn Nhạc, vây thành Quy Nhơn. Nhạc đóng cửa thành chống giữ. Huệ đánh thành suốt ngày đêm, vài ngày không hạ được, bèn giảng hòa, giải vây rút quân về, cho đóng đồn giữ Quảng Nam làm ranh giới”.(17)

          Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng chép:

Nguyễn Văn Nhạc nghe tin Huệ đã diệt Trịnh rồi, ngờ là phản mình, bèn dẫn quân đi gấp đường theo ra, cướp hết của cải châu báu rồi đem nhau cùng về. Bắc Hà rối loạn, không ai là không nghiến răng với Chỉnh. Trận này anh em Tây Sơn tranh nhau vì tài và sắc, bởi thế sinh ra ác cảm với nhau.(18)

          Quốc sử quán triều Nguyễn phán như vậy, theo đó mà hậu thế có cái nhìn lệch lạc về mối bất hòa của anh em nhà Tây Sơn, diễn dịch thành những sự kiện không được sáng sủa.

3) Mối bất hòa giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ

          Để đánh giá đúng đắn sự kiện Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đem quân vào vây thành Quy Nhơn của anh mình, đáng lưu tâm đến Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch. Bùi Dương Lịch (1757-1828) là người đương thời, đỗ Hương cống năm 1774, đỗ Tiến sĩ năm 1787, từng được Nguyễn Huệ mời ra làm việc ở viện Sùng Chính với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp năm 1791. Tác phẩm Lê quý dật sử do ông chấp bút mô tả những chuyện mà chính sử bỏ sót vào cuối triều Lê, hình thức biên niên những sự kiện của sách dễ xem xét mà đánh giá.

          Điều trước tiên mà Lê quý dật sử nhận xét: “Nguyễn Huệ tự phụ là người hùng tài”! Bùi Dương Lịch làm việc cho nhà Tây Sơn, nhưng dưới cây bút nghiêng về Lê triều của Bùi Dương Lịch thì Bắc Bình vương Nguyễn Huệ là người tự phụ, đã phô diễn hết hùng tài đánh đâu thắng đó, thắng những đối thủ những lực lượng lớn hơn mình, tất nhiên dễ sinh ra tâm thế cậy mình là tài giỏi, cho rằng thế lực mình hiện thời đã ngang với ông anh, muốn hùng cứ một phương không lệ thuộc ông anh nữa.

          Điều mà Lê quý dật sử đánh giá: “Vì cớ tranh giành tiền của dẫn quân đánh anh là Nguyễn Nhạc”! Việc anh em Nguyễn Huệ lấy tiền của từ Thăng Long về là có, điều này Đại Nam thực lục đã ghi nhận, Hoàng Lê nhất thống chí cũng chép lời của Hoàng tôn Lê Duy Kỳ than vãn khi hai anh em nhà Tây Sơn rời Thăng Long kéo về Nam vào tháng 8 năm 1786:

Anh em hắn cướp hết của nước ta mà đi, để cái nước rỗng không lại đây cho ta, nếu như có việc nguy cấp thì lấy gì mà chống chế.”.(19)

          Nhưng ở đây xét cớ vì tranh giành tiền của mà dẫn quân đánh anh như thế nào! Lý nào Thái Đức Nguyễn Nhạc hối hả ra Thăng Long để tranh với Nguyễn Huệ giành kho Thăng Long của đất Bắc hà! Lý nào Nguyễn Nhạc bất ngờ hấp tấp ra Thăng Long rồi cũng bất ngờ hối hả rời đi chỉ là vì nghi ngờ Nguyễn Huệ phản lại mình và cướp châu báu như Đại Nam thực lục đã phán hay sao!

          Nếu xét toàn cục thì Thái Đức Nguyễn Nhạc vội ra Thăng Long là để lôi em về. Đánh lấy Thuận Hóa là điều phải làm, nhưng đánh tới Thăng Long là phạm chủ trương “hòa Bắc đánh Nam” mà Nguyễn Nhạc đã vạch ra từ lúc khởi nghiệp. Không chỉ những sự kiện lịch sử xảy ra đã minh chứng chủ trương này, Thái Đức còn thốt ra bằng lời mà người nước ngoài ghi nhận được vào năm 1778.

          Năm 1778 có sứ đoàn người Anh đến Quy Nhơn để tìm kiếm mối giao thương. Sứ đoàn được Nguyễn Nhạc cho diện kiến ở thành Hoàng đế ngày 25.7.1778. Sau khi hai bên đã thỏa thuận về thuế các tàu cập cảng Quy Nhơn, Trưởng sứ đoàn Charles Chapman được Nguyễn Nhạc mời tiếp chuyện riêng ở tư dinh hậu cung. Charles Chapman tường thuật cuộc gặp gỡ này cho toàn quyền Anh ở Belgan. Sử gia Alastair Lamb (1930-2023) đã chép lại tường thuật của Chapman trong tác phẩm British missions to CochinChina 1778-1822 (Sứ mệnh của người Anh ở Đàng Trong từ năm 1778 đến 1882), in tại Kuala Lumpur 1961. Thái Đức Nguyễn Nhạc có thố lộ với Charles Chapman dự tính của mình:

Đức vua cởi mở tiết lộ những dự định trong tương lai với tôi. Ý đồ không ít hơn là làm cho vương quốc Cao Miên phải phục tùng, chinh phục toàn bộ bán đảo xa tận phía Xiêm La, và thu hồi những vùng phía Bắc thuộc xứ Ðàng Trong giờ đang ở trong tay của người Ðàng Ngoài.

Bản tường thuật tiếng Anh của Charles Chapman:

He was then pleased to disclose some of his future designs to me. They were no less than to subdue the Kingdom of Cambodia with the whole peninsula as far as Siam, and the Provinces belonging to CochinChina to the north now in the hands of the Tonquinese”.(20)

          Tại thành Hoàng đế năm 1778, phác thảo tương lai của Thái Đức Nguyễn Nhạc vạch ra gói gọn với 3 điểm chính:

1. Buộc vương quốc Chân Lạp phải phục tùng

2. Phải chinh phục bán đảo Xiêm La

3. Chỉ thu hồi đất đai của Đàng Trong đang bị quân Trịnh chiếm đóng

          Để thực hiện mưu đồ trên, Nguyễn Nhạc mong muốn có được sự hổ trợ của tàu sắt Anh quốc. Ông đã liệt kê những thổ sản mà Đàng Trong có được như hồ tiêu, các loại đậu, quế chi, kỳ nam, ngà voi, thiếc, và nhiều thứ khác nhưng vì thiếu hiểu biết cư dân đã không khai thác được hết. Bởi lẽ đó, cũng như cần cho việc huấn luyện dân binh về kỷ năng chiến đấu, ông đề nghị Toàn quyền Anh ở Bengal giúp gởi cho ông những cố vấn có năng lực chuyên môn. Bù lại, ông sẽ nhượng cho người Anh vùng đất tương thích để lập thương điếm.

          Thương thảo giữa Thái Đức Nguyễn Nhạc và sứ đoàn người Anh năm 1778 không được thực hiện. Charles Chapman đến Quy Nhơn mà trên tàu của ông có mang theo một cựu thần chúa Nguyễn đã lạc đến Bengal nhờ người Tây dương giúp đỡ. Chapman rời Quy Nhơn ra Quảng Nam, rồi đến Huế gặp Trấn thủ Phạm Ngô Cầu và Phó tướng Hoàng Đình Thể. Sau đó ông về Bengal trong tình thế gần như bị bắt buộc sau khi quân Trịnh muốn chiếm giữ con tàu của ông, hai bên đã đọ súng với nhau. Người Anh tạm bỏ ý đồ gầy dựng thế lực ở xứ Đàng Trong, địa thế thuận lợi của nơi này lọt vào tay người Pháp.

          Sách lược của Thái Đức Nguyễn Nhạc không phải là không hợp thời thế lúc bấy giờ. Người Đàng Trong cần sự hổ trợ của văn minh cơ khí phương Tây, người Tây dương đang tranh nhau mở rộng thế lực, họ đang tìm mọi cách đặt thương điếm ở Á Đông để dắt mối dây tạo nên ảnh hưởng nơi đây. Người Mãn Thanh bấy giờ sau khi chiếm đất nước Trung Hoa, hiện là lúc thịnh trị của họ, cần phải để yên vua Lê chúa Trịnh để làm vùng độn phía Bắc mà toàn tâm dồn hết nhân tài vật lực cho mưu đồ phía Nam.

          Qua vậy, mối bất hòa giữa Thái Đức Nguyễn Nhạc và Bắc Bình vương Nguyễn Huệ khởi nguồn từ sách lược ban đầu mà Thái Đức đã vạch ra. Đồ rằng sự việc nảy ra hục hặc chỉ xoay quanh chuyện nên phân bố nhân tài vật lực cho mục tiêu phía Bắc hay phía Nam. Cũng từ điều này mà Quốc sử quán triều Nguyễn diễn dịch rằng hai anh em nhà Tây Sơn đánh nhau chỉ vì giành của cải lấy được ở Thăng Long, còn tô đậm thêm: “tranh nhau vì tài và sắc, bởi thế sinh ra ác cảm với nhau”.

          Với mục tiêu phía Bắc, chiến thắng mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1789 trước giặc Mãn đã làm lân bang phải kiêng dè, nể phục, thiên tài quân sự Nguyễn Huệ danh vang bốn biển, lịch sử ghi nhận chiến công giữ nước của nhà Tây Sơn. Nhưng bao nhiêu đấy không ngăn được ý chí khôi phục nghiệp chúa Đàng Trong của Nguyễn vương Phúc Ánh. Trong nhật ký của Hội Truyền giáo ở phía Bắc, các giáo sĩ phương Tây có ghi nhận sự kiện sau lúc Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Vũ Văn Nhậm năm 1788, phải vội về liền Thuận Hóa “với những binh lính mới mộ được tại Bắc kỳ” để chuẩn bị cho việc Nam tiến, vì lo ngại đối thủ ở phía Nam gượng dậy phục quốc:

Tuy Bắc vương ra Bắc để lật đổ loạn đảng Tiết chế và để giữ chắc công cuộc cai trị vương quốc được phó thác cho ông, nhưng ông sợ vị thái tử hợp pháp của Nam kỳ [Nguyễn Ánh] trở về và xâm chiếm bất thình lình. Ông phải lập tức lên đường vào Nam với những binh lính mới mộ được tại Bắc kỳ”.(21)

          Khi Nguyễn Huệ ra Bắc hà dập tắt phủ chúa Đàng Ngoài họ Trịnh, mục tiêu phía Bắc cũng được chọn nên nhân tài vật lực của nhà Tây Sơn phải căng mình cả 2 mặt trận. Phía Bắc vua Lê hết dùng Nguyễn Hữu Chỉnh quấy phá đòi Nghệ An, rồi tìm sự dựa dẫm vào triều đình Mãn Thanh. Bắc Bình vương lo ổn định Bắc hà, lo đối phó với giặc Mãn nên không còn rảnh để dòm ngó phía Nam. Phía Nam Nguyễn Lữ đã bỏ về Quy Nhơn, Nguyễn vương Phúc Ánh kịp thời phục hồi lực lượng, về Gia Định tổ chức lại dinh trấn. Đầu năm 1789, người đứng đầu quân Tây Sơn ở Gia Định là Thái bảo Phạm Văn Tham vì thế binh cô độc nên đã hàng Nguyễn vương. Tháng 6 Bá Đa Lộc cùng Hoàng tử Cảnh từ Pháp về nước, có Jean Baptiste Chaigneau và Philippe Vannier thuận tình theo làm tôi tớ Nguyễn vương. Nguyễn vương ban chức và tên Việt cho Chaigneau là Cai đội Nguyễn Văn Thắng, cho Vannier là Cai đội Nguyễn Văn Chấn. Được người Tây dương giúp, Nguyễn vương Phúc Ánh tổ chức lại quân binh, năm 1790 tiến ra Phan Rí. Phạm Văn Tham mưu liên lạc với Nguyễn Huệ, bị phát hiện nên bị giết, từ đây phía Nam là mối lo chính của nhà Tây Sơn.

          Tựu chung, nói gọn lại sách lược hòa Bắc đánh Namlúc khởi nghiệp của Thái Đức Nguyễn Nhạc là chủ trương đúng đắn của một lực lượng nhỏ bé bị chung quanh gọi là kẻ cướp. Nhà Tây Sơn đứng lên đã dứt nghiệp chúa Đàng Trong, dập vùi 2 vạn quân Xiêm dưới rạch Gầm và kinh Xoài Mút. Khi ra Bắc hà xóa phủ chúa Đàng Ngoài, rồi đánh tan 20 vạn quân Thanh, sách lược “hòa Bắc đánh Nam” không còn tồn tại, nội bộ anh em xảy ra lục đục, viễn ảnh buộc Chân Lạp phải phục tùng, chinh phục bán đảo Xiêm La mỏng manh như mây khói, tiềm lực chiến tranh xứ Đàng Ngoài không giúp cho nhà Tây Sơn đủ sức đương cự Nguyễn vương Phúc Ánh đang trổi dậy ở phía Nam, nhà Tây Sơn bước lần đến chỗ suy vong. ◙

 

Phan Trường Nghị

(1) Hoàng Việt hưng long chí, Nxb Văn học 1993, bản pdf, tr 65

(2) A Voyage to Cochichina in the year 1792-1793

      University of Pittsburgh 1806, tr 250

(3) Khâm định VS thông giám cương mục, Nxb Giáo dục 1998, tr 930

(4) Khâm định VS thông giám cương mục, Nxb Giáo dục 1998, tr 937

(5) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 197

(6) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 199

(7) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 201

(8) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 220

(9) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 228

 (10) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 234

 (11) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 237

 (12) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 240

 (13) Lê quý dật sử, Nxb Khoa học xã hội 2001, tr 62

 (14) Hoàng Lê nhất thống chí , Nxb Văn học 2006, tr 132

 (15) Tập san Sử Địa, số 9-10 , Nxb Khai Trí 1968, tr 230

 (16) Lê quý dật sử, Nxb Khoa học xã hội 1987, tr 72

 (17) Lê quý dật sử, Nxb Khoa học xã hội 1987, tr 78

 (18) Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục 2001, bản pdf, tr 242

 (19) Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học 2006, tr 143

 (20) British To CochinChina 1778-1822, Kuala Lumpur 1961, tr 43

 (21) Tập san Sử Địa, số 9-10, Nxb Khai Trí 1968, tr 206

 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét