Tây Sơn lãnh xuất hiện trong Hoàng Việt nhất thống dư địa
chí năm 1806 của Thượng thư Lê Quang Định. Đây được xem là bộ địa chí đầu
tiên của triều Nguyễn, sách mô tả dịch lộ, kỳ lộ lẫn thủy lộ từ Bắc Thành cho đến
Gia Định thành. Tại trấn Bình Định, sách có chép đường đi từ Trấn thành Bình Định
đến thôn Kiên Mỹ có qua các địa danh: (1)
+ sông Thiết Trường (鉄場江)
: Đây là nhánh chi lưu của sông Côn chảy qua Thiết Trường, còn gọi là sông Quai
Vạc, làm ranh giới cho 2 ấp ngày xưa là ấp Thiết Trụ Nhì (là Thiết Trường của Nhơn
Mỹ) và ấp Thiết Trụ Nhứt (là Thiết Trụ của Nhơn Hậu). Nhơn Hậu và Nhơn Mỹ trước
đây thuộc Thị xã An Nhơn tỉnh Bình Định, nay thuộc phường An Nhơn tỉnh Gia Lai.
+ chợ Nho Lâm (儒林巿) :
thôn Nho Lâm thời Gia Long có chánh hộ ấp Thời Hòa (gần đây nó là thôn
Háo Ngãi xã Tây An huyện Tây Sơn),và khách hộ ấp Thời Hòa (gần đây là
thôn Ngãi Hòa xã Nhơn Mỹ thị xã An Nhơn).
+ cầu Tân Duệ (新銳橋)
: Tân Duệ còn đọc là Tân Nhuệ, đây là địa phận ấp Tân Nhuệ Nhì của thuộc
Thời Hòa theo địa bạ năm 1815, gần đây nó là thôn Tân Đức xã Nhơn Mỹ thị
xã An Nhơn.
+ chợ Vân Tường (雲祥巿)
: Vân Tường là ấp của thuộc Thời Hòa huyện Tuy Viễn, gần đây nó là thôn Vân Tường
của xã Bình Hòa huyện Tây Sơn
+ khe Trường Định (長定溪)
: đây là Suối Bèo, thuộc địa phận thôn Trường Định của thuộc Thời Hòa trong địa
bạ năm 1815, gần đây là thôn Trường Định của xã Bình Hòa huyện Tây Sơn, nay
thuộc xã Bình An, Gia Lai.
+ điếm Lò Giấy (坫爐紙)
: đây đã thuộc địa phận ấp Kiên Mỹ của thuộc Thời Hòa, điếm Lò Giấy là ranh giới
của Kiên Mỹ và Kiên Long. Sau năm 1975 thuộc xã Bình Thành huyện Tây Sơn, nơi
có Bảo tàng Quang Trung và điện thờ Tây Sơn tam kiệt.
Tại ấp Kiên Mỹ theo tiểu lộ đi về hướng Tây là đến thủ
sở nguồn Đồng Hươu (至仝貅源守所),
là đường vào khu du lịch Hầm Hô hiện nay. Còn theo đường lớn đi tiếp hướng Tây
để lên nguồn Cầu Bông (橋芃源), sách chép tiếp theo bản dịch Phan Đăng,
Nxb Thuận Hóa năm 2005:
+ 1537 tầm (hơn 3km), bắt
đầu từ ấp Kiên Mỹ dọc đường là ruộng lúa và gò đồi xen nhau, dân cư thưa thớt,
đến khe Kiên Thành (堅城溪)
Khe Kiên Thành nay người địa phương gọi là Suối Nhiên. Thời
Gia Long, ấp Kiên Thành là của thuộc Thời Hòa, sang triều Minh Mạng cải làm
thôn Phú Lạc của tổng Thời Hòa, gần đây thuộc xã Bình Thành huyện Tây Sơn. là
thôn có di tích Gò Lăng, nơi có mộ của Nội tổ ba anh em Nhạc Huệ Lữ của nhà Tây
Sơn.
+ 2237 tầm (gần 5 km), đường
rộng 3 thước (khoảng 1,2m), bên Nam chạy dọc theo sông, bên Bắc gần núi
rừng, đoạn đường từ đây đi lên thượng nguồn rất sợ nạn cọp beo, khách đi đường
phải lưu ý. Đến điếm Trường An (坫長安) tục gọi là Quán Mông (舘檬)
Đến điếm Trường An là bắt đầu vào địa phận thôn Trường
An. Quán Mông nay người địa phương gọi là Quán Nổng. Quán Nổng của Phú Lạc gọi
là xóm Bình Đồn, trước năm 1947 thuộc thôn Tả Giang. Thời Gia Long, Tả Giang là
ấp Tả Chi Nhứt của thôn Trường An thuộc Thời Hòa. Thôn Trường An gần đây là xã
Tây Giang của huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, nay là xã Bình Khê, Gia Lai.
Quán Nổng có công trình đập
dâng Văn Phong phía dưới bến Cây Muồng chặn ngang sông Côn, hoàn thành năm
2015. Tại đây phía bờ Nam sông Côn là núi Ngang (Hoành sơn) có di tích Lăng mộ
chí sĩ Cần vương Mai Xuân Thưởng. Phía bờ Bắc là Độc Nhũ sơn (犢乳山) hay Trưng sơn, dân địa
phương gọi là hòn Sưng hoặc hòn Mả mẹ chú Lía. Truyền thuyết kể lại là chàng
Lía từ Chóp Vàng (núi Bá Bích thuộc xã Bình Phú) đội áo quan Mẹ về chôn trên đỉnh
Trưng sơn.
+ 1172 tầm (gần 3 km), phía
Nam chạy dọc theo sông, phía Bắc là ruộng cao trồng dâu, đến sông Đồng Phú (仝富江), sông rộng 60 tầm, mùa Xuân Hè
thì nước sông trong và cạn, khách đi đường có thể xắn quần lội qua, Thu Đông
mưa lụt nước đầy phải có thuyền mới qua được. Đi lên thì đến nguồn Cầu Bông
(橋芃源)
chỉ đi bằng đường sông, đi xuống thì chảy vào sông Sung Bông (𣑁𥟌江)
Đồng Phú là Đồng Phó của thôn Thượng Giang xã Bình Khê. Gần
đây nó là xã Tây Giang huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, nơi đây hiện vẫn còn các
xóm mang tên Đồng Phú Bắc, Đồng Phú Trung, Đồng Phú Nam.
Thượng Giang ở bờ Nam sông
Côn, nó có tên vào thời Minh Mạng, trước đó là ấp Tả Chi Tam của thôn Trường An
thuộc Thời Hòa theo địa bạ năm 1815. Ở bờ Bắc sông Côn là Hữu Giang, xưa
là ấp Tả Chi Nhị. Thôn Trường An thời Gia Long có 3 ấp là Tả Chi Nhứt, Tả Chi
Nhị và Tả Chi Tam. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí đến đây chép rõ khi
từ Đồng Phó đi tiếp lên thượng nguồn là phải đi bằng đường sông, không dùng đường
bộ được.
+ 550 tầm (hơn 1km), dọc
đường đều là đồi cát, đến khe Đồng Phú (仝富溪)], khe rộng 7 tầm, nước khe
trong và cạn, mùa hè thì cạn khô
Người địa phương nay gọi khe Đồng Phú là suối Cát hay suối
Cả. Là suối phát nguyên trên hòn Bình, núi đặt theo một tên khác của Quang
Trung Nguyễn Huệ được Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn
ghi nhận. Suối hợp với suối từ hang Dơi đèo An Khê xuống cùng chảy ra Đồng Phó.
+ 3170 tầm (hơn 6,5 km), dọc
đường là ruộng hoang và gò rừng xen nhau, đến Tây Sơn lĩnh (西山嶺) núi
dài 2250 tầm (hơn 4,5 km), tục gọi là đèo Đa Đa (岧多多),
đường núi lồi lõm gập ghềnh
Theo ghi chép của Hoàng Việt nhất thống dư địa chí,
đến đây là gặp Tây Sơn lĩnh: Ngoài thực địa, từ cửa khẩu suối Cát đi bằng thuyền
đến Tân Thuộc, là thôn Hữu Thuận xã Bình Khê ngày nay. Bên kia sông Côn có núi,
người địa phương gọi là hòn Dồ (Vồ). Núi trải dài lên tới Tiên An hơn 4km, tại đây
đây có đèo Bồ Bồ đi qua bên Thuận Ninh của xã Bình Tân huyện Tây Sơn, nay là xã
Bình Hiệp tỉnh Gia Lai.
2)
Thuận Ninh sơn (順寕山)
Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí chép Tây Sơn
lãnh tục danh đèo Đa Đa (西山嶺俗名岧多多), rõ ràng Tây Sơn lãnh chính là núi Thuận Ninh ngày
nay. Nhưng khảo lại Đại Nam nhất thống chí đã
chép về núi Thuận Ninh như thế nào!
Bản dịch Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức của viện
Sử học:
+ Núi Thuận Ninh ở thôn Thuận Ninh (順寕村), phía Tây Bắc huyện (Tuy Viễn), tục gọi đèo Tây Vong (岧西亡), chân núi có khe (tục gọi là sông Cá?), nước khe chảy về phía Nam đến núi Phan Lê, đổ vào khe của sông Tam Huyện (三縣江). Đầu đời Minh Mạng đặt xe giã thuốc nổ ở đây. Có đường đi về phía Bắc đến nguồn Thạch Bàn (石磐源) huyện Phù Cát, phía Nam đến thôn Tiên Thuận (先順村), về phía Đông núi có núi Kỳ Tán, phía Tây Nam có núi Ô Mộc (tục gọi là núi Cây Mun).(3)
Ngày nay, thôn Thuận Ninh thuộc xã Bình Hiệp tỉnh Gia
Lai, người địa phương gọi đèo Tây Vong là đèo Bồ Bồ, gọi sông Cá? là sông Quéo,
Sông Quéo nay là suối Bèo. Đến núi Thơm, suối chảy ra sông Côn làm ranh giới 2
thôn Kiên Thạnh và Vĩnh Lộc thuộc xã Bình An. Đèo Bồ Bồ là đường từ xóm Tiên An
(thuộc thôn Tiên Thuận) qua Thuận Ninh để đến nguồn Thạch Bàn, là con đường mà thời
9 năm dân công Phù Cát tải vật dụng lên Tây Nguyên phục vụ chiến trường.
Không có gì phải nghi ngờ, Tây Sơn lĩnh chính là Thuận
Ninh sơn, đèo Đa Đa chính là đèo Tây Vong trong Đại Nam nhất
thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn. Ý đồ chính trị của Quốc sử quán
khi biên soạn Đại Nam nhất thống chí là định hình lại địa lý, nói theo
ngôn ngữ thời nay là chuẩn hóa dữ liệu, ngôn ngữ mô tả không sai với thực địa, nhưng
từ ngữ được đưa vào làm phai mờ dấu vết của nhà Tây Sơn. Như Tây Sơn lĩnh có đèo
Đa Đa từ thôn Tây Sơn đi qua huyện Phù Cát, được chép là đèo Tây Vong, hàm nghĩa
là nhà Tây Sơn đã mất!
Có phải chăng Tự Đức chưa hài lòng cách ghi chép của Quốc
sử quán, nên chỉ dụ phải làm lại mới được phép khắc in (!?). Để rồi đến đời Duy
Tân bản khắc quyển 9 chỉ nhắc đến Đa Đa lãnh (多多嶺) chớ không nói
gì về núi Thuận Ninh!
Phan Trường
Nghị
(1) Hoàng
Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Nxb Thuận Hóa 2005, tr 247
(2)
Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Nxb Thuận
Hóa 2005, tr 248
(3)
Đại Nam nhất thống chí Tập III, Nxb Thuận Hóa 2006, tr 22


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét